Ngôn ngữ nào sẽ được thế giới sử dụng vào năm 2115?

Monday, 06/09/2021 10:19
Lịch sử ngôn ngữ thế giới đã chứng kiến nhiều xu hướng phát triển và sử dụng ngôn ngữ. Trong thời đại toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ hiện nay, việc biết được nhiều ngoại ngữ là một điều kiện tiên quyết đối với mỗi người để có thể hội nhập, phát triển và bắt kịp sự phát triển của thời đại. Tương lai sắp tới, ngôn ngữ nào sẽ trở nên phổ biến?
Bài viết dưới đây phần nào lý giải và đưa ra những dự đoán về vấn đề này.
      Thế giới tồn tại khoảng 7000 ngôn ngữ, trong đó tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh là những ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất. Vậy có bao giờ bạn nghĩ 100 năm sau 1 trong 3 ngôn ngữ trên sẽ được sử dụng bởi tất cả mọi người trên thế giới? Khi đó, người ta sẽ chu du khắp thế giới một cách dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết. Nhà ngôn ngữ học, triết học và âm nhạc tại Đại học Columbia, Hoa Kỳ đã có một nghiên cứu khá sâu sắc và thú vị về sự thay đổi của ngôn ngữ trong lịch sử. Qua đó, ông phần nào vẽ lên viễn cảnh của ngôn ngữ trên thế giới vào năm 2115.
  • Hy vọng quốc tế ngữ bắt đầu từ những năm 1880
     Hồi năm 1880, một giáo sĩ đến từ Baravia, miền nam nước Đức, đã sáng tạo nên một ngôn ngữ mới mang tên Volapük với hy vọng sẽ được áp dụng cho tất cả mọi người trên thế giới. Volapük là một sự pha trộn giữa các từ ngữ tiếng Anh, Pháp và Đức. Tuy nhiên, Volapük rất khó sử dụng, khó phát âm và cấu trúc ngữ pháp rắc rối như tiếng Latin. Sau đó vài năm, Volapük nhanh chóng chìm vào lãng quên và nhường sự chú ý cho một ngôn ngữ khác được phát minh tiếp theo là Esperanto. Khắc phục nhược điểm của Volapük, Esperanto có thể dễ học hơn và người học chỉ mất khoảng 1 buổi để nắm được các quy tắc sử dụng cơ bản.
     Tuy nhiên, vào thời điểm Esperanto bắt đầu được giới thiệu, tiếng Anh đã nhanh chóng trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế. 2000 năm trước, tiếng Anh cổ đã được những bộ lạc thời đồ sắt tại Đan Mạch sử dụng. Tuy nhiên, 1000 năm sau đó, tiếng Anh lại bị lấn át bởi tiếng Pháp ngay trên chính đảo quốc sương mù. Lúc bấy giờ, không một ai nghĩ rằng tiếng Anh sẽ trở nên phổ biến như hiện nay, với hơn 2 tỷ người sử dụng, tương đương với 1/3 dân số thế giới.
     Một truyền thuyết trong Kinh Thánh kể rằng xưa kia, sau trận Đại hồng thủy, con người tập trung sống với nhau tại thành phố Babylon. Họ nói cùng một thứ ngôn ngữ và khi đó, bắt đầu xây dựng tòa tháp Babel to lớn tới mức "đỉnh của nó có thể chạm tới thiên đường." Tuy nhiên, Đức Jehovah đã ngăn chặn ý định này bằng cách làm lộn xộn tiếng nói của con người, khiến cho người này không thể nghe được tiếng nói của người kia và ý định xây dựng tháp cũng mà tan vỡ. Từ đó, con người tản ra khắp nơi và mỗi vùng nói hàng nghìn thứ tiếng khác nhau.
     Một số bộ phim, tiểu thuyết khoa học giả tưởng cũng thường dựng lên một hành tinh mà toàn thể cư dân trên đó đều nói chung một ngôn ngữ. Do đó, một số người lo ngại rằng có thể, tiếng Anh rồi sẽ dần dập tắt những ngôn ngữ khác, trở thành một "ngôn ngữ của Trái Đất" và loài người sẽ mất đi hàng nghìn ngôn ngữ gắn liền với lịch sử, nền văn hóa của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, lo sợ này vẫn còn quá sớm. Trên thực tế, thay đổi ngôn ngữ của toàn bộ một quốc gia không phải là điều dễ dàng, khi mà nó đã được mỗi cư dân sử dụng một cách hoàn toàn tự nhiên ngay từ khi mới lọt lòng.
     Dù tiếng Anh có được sử dụng phổ biến như hiện nay, nhưng phần lớn đều sử dụng nó như một ngôn ngữ để giao tiếp ra bên ngoài, còn tiếng địa phương vẫn được sử dụng song song trong một quỹ đạo riêng của nó. Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là 1 thế kỷ nữa, tức là vào những năm 2115, ngôn ngữ mà con người sử dụng trên hành tinh sẽ ra sao? Có 2 giả thuyết được nêu ra nhằm diễn tả cảnh quan ngôn ngữ sau 100 năm nữa. Thứ nhất, chỉ còn lại một số ít ngôn ngữ. Thứ hai, ngôn ngữ sẽ biến đổi theo hướng đơn giản hơn so với hiện nay, đặc biệt là cách nói sẽ hoàn toàn khác so với cách chúng ta viết chúng.
  • Tiếng Trung có trở thành ngôn ngữ quốc tế?
     Một số người cho rằng không phải tiếng Anh, mà tiếng Phổ thông (Trung Quốc) mới thật sự trở thành ngôn ngữ của thế giới. Ý tưởng ở đây là dân số khổng lồ của quốc gia này cộng với nền kinh tế đang ngày một phát triển. Tuy nhiên, chuyện đó dường như không hề dễ dàng do tiếng Anh đã xây dựng được nền tảng vững chắc. Tiếng Anh hiện nay đã ăn sâu và trở thành khuôn mẫu của nhiều lĩnh vực khác nhau nên việc chuyển sang ngôn ngữ mới đòi hỏi một nỗ lực không hề nhỏ. Chúng ta đã có "bàn phím quốc tế" QWERTY hay chuẩn dòng điện AC cũng vì lý do này.
     Thêm vào đó, tiếng Trung là cực kỳ khó học nếu không được tiếp xúc từ nhỏ và nếu muốn thật sự làm chủ hệ thống chữ viết tượng hình cũng không phải là điều đơn giản. Thật sự, không riêng gì tiếng Trung mà cả tiếng Hy Lạp, tiếng Latin, tiếng Aramaic, tiếng Ả Rập, tiếng Nga,… đều được đa số người học xem như những ngôn ngữ vô cùng thách thức. Điều đó cộng với nền tảng mà tiếng Anh đã xây dựng được, tiếng Trung khó lòng đạt được sự gần gũi đến mức có thể thay thế vai trò là tiếng quốc tế được. Lịch sử đã chứng minh rất nhiều thế lực hùng mạnh đã chiếm đóng và cai trị một vùng lãnh thổ, nhưng vẫn không thể thay đổi ngôn ngữ tại nơi đó. Người Mông Cổ và Mãn Châu đã cai trị chính Trung Quốc nhưng tiếng Trung vẫn còn nguyên vẹn.
  • Những ngôn ngữ phức tạp sẽ dần bị quên lãng nếu không được truyền lại cho thế hệ sau
     Một số đoán rằng đến năm 2115, số ngôn ngữ trên thế giới sẽ còn lại 600 thay vì 6000 như hiện nay (khoảng 1000 trong số đó được cho là đang dần mất đi). Một số ngôn ngữ của những nhóm người nhỏ sẽ rơi vào tình trạng khó khăn. Điển hình như trong quá khứ, phần lớn ngôn ngữ của thổ dân châu Mỹ hoặc Úc đã bị đồng hóa bằng tiếng Anh. Đồng thời, quá trình đô thị hóa nhanh chóng như ngày nay còn góp phần đẩy nhanh quá trình này. Và những người dân di cư tới các thành phố lớn, các địa điểm lớn đều dần phải sử dụng một ngôn ngữ chung tại đó.
     Ở khía cạnh khác, tư duy ngày nay thường cho rằng, ngôn ngữ phải được sử dụng để viết, với các quy định, cấu trúc vững vàng, được tuân thủ đúng, mới tạo nên một ngôn ngữ. Và những người chỉ có thể nói nhưng không biết viết, thì chưa thể gọi là "biết" và sử dụng một ngôn ngữ được. Điển hình như tiếng Yiddish (một tiếng Đức cố của người Do Thái tại Trung và Đông Âu) được cho là ngôn ngữ đang chết, khi mà rất nhiều người vẫn đang sử dụng nó để giao tiếp tại Israel và Mỹ nhưng lại không biết viết.
     Trong một môi trường sống với 1 thứ ngôn ngữ lớn, phổ biến hơn so với ngôn ngữ gốc của mỗi người, họ thường có xu hướng sử dụng ngôn ngữ lớn thường xuyên hơn và ngôn ngữ của riêng họ sẽ bị cho là lạc hậu. Từ đó, rất có thể ngôn ngữ riêng cũng dần không được sử dụng để giao tiếp với thế hệ con cái của họ. Ví dụ như một người trưởng thành từ nước A chuyển sang sống tại nước B, họ sẽ bắt đầu sử dụng ngôn ngữ nước B. Khi đó, nếu họ không sử dụng tiếng A để nói với con cái họ, thế hệ con cái sẽ không thể kế thừa tiếng A được nữa. Dĩ nhiên là cho tới lúc trưởng thành, tiếng B mới chính là ngôn ngữ mẹ đẻ của thế hệ con cái.
     Tuy vậy, chính trẻ em mới là những thế hệ vô cùng quan trọng giúp duy trì sức sống của một ngôn ngữ nào đó. Cho dù đó là tiếng Anh với hàng loạt động từ bất quy tắc, nhiều ngoại lệ, hay đó là tiếng Trung với đầy chữ tượng hình và 4 thanh âm khác nhau, hoặc thậm chí là tiếng H'Mông với 8 thanh âm khác nhau, trẻ em đều có thể học được một cách dễ dàng. Nhưng một thực tế là nhiều cộng đồng người sinh sống đang ngày càng ít chú trọng đến việc truyền dạy ngôn ngữ cho trẻ em một cách đầy đủ.
  • Làn sóng tối ưu hóa các ngôn ngữ gốc
     Thay vì duy trì một ngôn ngữ khó, lạc hậu và có thể đứng trên bờ vực bị tiêu diệt, nhiều cộng đồng, bao gồm cả trường học và người lớn đã cải biên một phiên bản mới của ngôn ngữ theo hướng đơn giản hóa các từ vựng và cấu trúc ngữ pháp. Trong quá khứ không ít nhiều ngôn ngữ đã được duy trì theo cách thức này. Lịch sử đã ghi nhận những làn sóng mạnh mẽ góp phần không nhỏ đến sự biến đổi của ngôn ngữ theo xu hướng đơn giản hóa. Đầu tiên là sự phát triển của công nghệ tạo điều kiện cho con người có thể vượt đại dương, thực hiện xâm chiếm, định cư những vùng đất mới.
     Điển hình như khi người Viking xâm lược Anh Quốc vào thế kỷ thứ 8, họ bắt đầu hòa nhập vào xã hội. Khi đó, giáo dục chỉ giới hạn đối với tầng lớp quý tộc, do đó, những bậc cha mẹ dân thường dần sẽ "phá vỡ" tiếng Anh cổ khi họ dạy cho con cái. Những đứa trẻ này sẽ lớn lên cùng với phiên bản tiếng Anh mới. Trong tiếng Anh cổ, có tới 3 giống, 5 cách và hệ thống ngữ pháp vô cùng phức tạp, tương đương với tiếng Đức hiện nay. Nhưng sau khi người Viking xuất hiện, nó đã tiến hóa thành tiếng Anh hiện đại - một trong số vài ngôn ngữ tại châu Âu không còn ghép giống vào trong các vật thể vô tri nữa. Tương tự như vậy, tiếng Trung, Ba Tư, Indonesia và nhiều ngôn ngữ khác đã bước vào một chu trình tương tự nhằm đơn giản hóa ngôn ngữ gốc.
     Thời đại sau đó, làn sóng thứ 2 mang những nô lệ người da đen từ châu Phi đến châu Âu đã một lần nữa tác động không nhỏ tới quá trình biến đổi ngôn ngữ tại đây. Khi đó, những người da đen trưởng thành cần phải học ngoại ngữ mới một cách nhanh chóng, và đơn giản hơn cả người Viking. Họ chỉ cần vài trăm từ vựng và một số cấu trúc ngữ pháp đơn giản. Và từ những nguyên tắc cơ bản ban đầu, họ bắt đầu mở rộng ra một thứ ngôn ngữ mới để có thể lâu dài tại châu Âu: ngôn ngữ Creole xuất hiện - một dạng tiếng bồi.
     Trên thực tế, hình thái tiếng Creole được sáng tạo ra trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại "phương Tây khai phá." Khi đó, người Haiti tạo nên tiếng Haiti Creole từ tiếng Pháp, những binh sĩ châu Phi tạo nên tiếng Ả Rập Creole tại Sudan; người dân tại New Guinea lại tạo nên tiếng Đức Creole. Những thổ dân châu Úc cũng tạo nên tiếng Anh Creole và lan rộng sang những khu vực xung quanh, tới New Guinea với tên gọi tiếng Tok Pisin - ngày nay được chính phủ công nhân là quốc ngữ.
     Tiếp theo, làn sóng di cư của những người hiện đại đã một lần nữa thúc đẩy sử hiện đại hóa lần thứ 3 của ngôn ngữ. Những đứa trẻ nhập cư tại các thành phố trên khắp thế giới bắt đầu nói những ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng địa phương gốc với phiên bản của tiếng địa phương do cha mẹ chúng nói. Nói cách khác, những thế hệ con cái một lần nữa sẽ biến đổi ngôn ngữ bản địa thành ngôn ngữ của chúng. Bằng cách này, Kiezdeutsch - một tiếng địa phương tại Đức lại chuyển thành "Kebob Norsk" khi đến Nauy. Một thí dụ khác, người Singapore đã có "Singlish - tiếng Anh của người Sing",… Thế giới chứng kiến sự ra đời các phiên bản được "cải biên nhẹ" của những ngôn ngữ cũ.
     Cách cải biên này không phải là sự suy thoái của ngôn ngữ. Phần lớn các ngôn ngữ mới "tối ưu hóa" đều đảm bảo đầy đủ những quy tắc của ngôn ngữ gốc và một khi một người sử dụng tiếng Anh cũ nghe được tiếng Anh mới, họ sẽ nhận ra nó đã bị sửa đổi nhưng vẫn đảm bảo sự cân bằng. Tuy nhiên, sự sửa đổi đó theo hướng bớt cồng kềnh hơn, không chứa quá nhiều động từ bất quy tắc, 8 thanh âm và dĩ nhiên là không có phân chia giống của đồ vật.
     Và đây có thể sẽ là xu hướng biến đổi của ngôn ngữ thế giới trong tương lai. Vấn đề đặt ra ở đây là toàn bộ các ngôn ngữ bị biến đổi vẫn cần phải ghi nhận, lưu giữ lại một cách đầy đủ bằng các công cụ hiện đại để lưu truyền cho hậu thế. Đừng để đến năm 2115, con người sẽ tiếc nuối về một thế giới từng có 6000 ngôn ngữ nhưng chỉ còn lại 600. Và đó cũng chỉ là một dự đoán, nhưng hiện nay, con người đang sử dụng 1 ngôn ngữ bên cạnh tiếng mẹ đẻ của họ để giao tiếp quốc tế.
     Sau cùng, dường như người ta thường kể lại câu chuyện tháp Babel như một lời nguyền cho con người hơn là sự ban phước lành. Tương lai hứa hẹn sẽ có tiếp tục sự biến đổi của ngôn ngữ theo hướng tối ưu hóa 1 ngôn ngữ theo nhiều cách khác nhau. Khi đó, các phiên bản mới vẫn có thể trao đổi lẫn nhau dễ dàng. Tương lai có thể không phải là 1 thứ tiếng Anh cứng nhắc cho toàn thế giới, nhưng là một thứ tiếng Anh mềm đến từ nhiều vùng đất chan hòa, giao thoa với nhau.
                                                                                                                                                          
Nguồn: Infonet.vn
 
Ngôn ngữ nào sẽ được thế giới sử dụng vào năm 2115?

Ngôn ngữ nào sẽ được thế giới sử dụng vào năm 2115?

Lịch sử ngôn ngữ thế giới đã chứng kiến nhiều xu hướng phát triển và sử dụng ngôn ngữ. Trong thời đại toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ hiện nay, việc biết được nhiều ngoại ngữ là một điều kiện tiên quyết đối với mỗi người để có thể hội nhập, phát triển và bắt kịp sự phát triển của thời đại. Tương lai sắp tới, ngôn ngữ nào sẽ trở nên phổ biến?
Bài viết dưới đây phần nào lý giải và đưa ra những dự đoán về vấn đề này.
Nguy cơ tiềm ẩn từ sự lạm dụng ngôn ngữ mạng

Nguy cơ tiềm ẩn từ sự lạm dụng ngôn ngữ mạng

Ngôn ngữ mạng có tính đặc thù, là thứ ngôn ngữ phi chính thức, thể hiện sự tự do cá nhân. Từ thế giới "ảo" trên Internet, cách nói, cách viết "tuổi teen", "phá cách"... đã đi vào đời sống thực, vô tình trở thành thói quen trong giao tiếp, tạo nên thứ tiếng Việt xa lạ. Hiện nay, ngôn ngữ mạng được dùng rất phổ biến và theo các chuyên gia về ngôn ngữ, việc lạm dụng dạng ngôn ngữ này đem lại không ít hệ quả khó lường.
CLEF xin tổng hợp một số quan điểm, đánh giá về vấn đề này trong bài viết dưới đây.
 
Văn học Nhật Bản đến Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóaT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA

Văn học Nhật Bản đến Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóaT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA

Việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt những năm gần đây khá sôi động giúp cho bạn đọc Việt Nam gần gũi hơn với đất nước và văn hóa, con người Nhật Bản. Bài viết dưới đây mang lại một góc nhìn khác - từ khía cạnh ngôn ngữ và văn hóa - đối với việc dịch thuật các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt.
Châu Âu và thách thức đa ngôn ngữ

Châu Âu và thách thức đa ngôn ngữ

Liên minh châu Âu (EU) đã tuyên bố ủng hộ đa ngôn ngữ, nhưng theo các nhà nghiên cứu thì đa ngôn ngữ vẫn là vấn đề nóng bỏng. Nội dung này đã được các chuyên gia thảo luận tại nhiều diễn đàn với những băn khoăn, trăn trở về cơ hội và thách thức của hiện tượng đa ngôn ngữ.
Nguồn lực ngôn ngữ trong sự phát triển của Singapore

Nguồn lực ngôn ngữ trong sự phát triển của Singapore

Singapore là một quốc đa văn hóa, gia đa ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở quốc gia này không chỉ được xem như một nguồn lực có giá trị kinh tế mà còn là biểu tượng của văn hóa. Để bảo đảm sự đa dạng văn hóa, thúc đẩy sự hiểu biết, đoàn kết giữa các dân tộc, đồng thời phù hợp với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, Singapore đã xây dựng, thông qua nhiều chiến dịch và chính sách ngôn ngữ. Đây là kinh nghiệm hữu ích cho các nước, trong đó có Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
VĂN HÓA NGÔN NGỮ VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC. NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY

VĂN HÓA NGÔN NGỮ VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC. NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY

Trong quá trình hội nhập thế giới, sự giao thoa văn hóa xã hội đòi hỏi ngôn ngữ phải có những thay đổi để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp mới. Vì thế từ khi nước ta bắt đầu hội nhập thì ngôn ngữ cũng dần dần xuất hiện những hiện tượng mới mẻ. Những từ ngữ mới, cách diễn đạt mới được hình thành để thêm vào những khái niệm, ngữ nghĩa mà trong vốn tiếng Việt trước đấy còn thiếu vắng. Cùng với mặt tích cực ấy, mặt tiêu cực cũng biểu hiện với không ít các cách nói, cách viết “khác lạ” trong giới trẻ làm mất đi hoàn toàn bản sắc vốn có của tiếng Việt. Đây là vấn đề đã thu hút sự quan tâm, trăn trở của nhiều người. Bài viết sau đây đưa ra một cách nhìn về vấn đề này.
Huy Anh CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - GIÁO DỤC QUỐC TẾ VIỆT TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG VIỆN QUỐC TẾ PHÁP NGỮ VOV2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CẦU GIẤY TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT HỒNG ĐỨC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA