Đầu tư giáo dục ở một số quốc gia

Thứ Hai, 10/05/2021 10:55
Chất lượng giáo dục là một trong những tiêu chí chi phối sự tiến bộ của cá nhân, hoặc một xã hội, cũng như sự phát triển của cả một quốc gia. Do vậy, một đất nước có tỷ lệ đầu tư cao vào giáo dục chắc chắn sẽ tạo nên sự khác biệt trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng có nhận thức đầy đủ và đầu tư cho lĩnh vực giáo dục một cách hiệu quả. CLEF xin chia sẻ bài tổng hợp thông tin về một số quốc gia ở châu Á và châu Âu có mức đầu tư vào giáo dục lớn nhất thế giới để thấy được tầm quan trọng của lĩnh vực này đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
I. Đầu tư giáo dục ở một số quốc gia châu Á
1. Nhật Bản
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đã cam kết mạnh mẽ giáo dục sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nhờ có nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò là nhân tố chính trong sản xuất công nghệ cao, các sản phẩm có giá trị do quốc gia này sản xuất tăng rất cao. Chìa khóa cho sự thành công của Nhật Bản trong giáo dục là niềm tin mang tính truyền thống rằng tất cả trẻ em đều có thể đạt được thành công trong học tập. Nhật Bản nỗ lực trong việc dành trách nhiệm ra quyết định về giáo dục cho các trường học. Chính quyền địa phương cần đưa ra các chính sách công bằng để thu hút các giáo viên chất lượng cao về giảng dạy. Nhiều quốc gia đánh giá cao Nhật Bản ở những tiêu chuẩn rõ ràng và đầy tham vọng trong giáo dục. Quốc gia này có hệ thống giảng dạy và thực hành chất lượng cao, các phương pháp tiếp cận học tập hiệu quả.
Nhật Bản là quốc gia có nền giáo dục hàng đầu châu Á, tuy nhiên Chính phủ Nhật Bản không chi tiêu nhiều cho giáo dục. Nhìn vào con số trung bình của tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục so với tổng chi tiêu của chính phủ của các quốc gia OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) là 12,9% thì Nhật Bản xếp ở mức thấp thứ hai là 9,1%, chỉ sau Italy ở mức 8,6%.
Chính phủ Nhật Bản đã thay đổi cách phân phối ngân sách cho các độ tuổi. Nhiều nguồn lực dần được chuyển sang thế hệ trẻ với những kế hoạch cung cấp thêm tài trợ cho giáo dục mầm non. Đảng Dân chủ Tự do của Thủ tướng Shinzo Abe đang xem xét đưa ra kế hoạch giảm chi phí của các hộ gia đình dành cho giáo dục, tương tự như hệ thống HECS-HELP của Australia. Theo chương trình này, sinh viên có quốc tịch Australia có thể mượn tiền từ Chính phủ để trang trải học phí trong những năm học đại học. Khoản vay này tùy thuộc vào các chỉ số và không tính lãi. Các sinh viên bắt đầu trả nợ Chính phủ khi thu nhập của họ vượt qua ngưỡng tối thiểu.
Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản đang cung cấp các chương trình học bổng đa dạng cho các gia đình có thu nhập thấp nhằm tạo cơ hội giáo dục bình đẳng trên cả nước. Khoản đầu tư trị giá 800 tỷ Yên của Chính phủ Nhật Bản cho phép sinh viên từ các hộ gia đình có thu nhập thấp được hưởng giáo dục miễn phí tại các trường đại học quốc gia. Học phí tại các trường đại học tư, cao đẳng 2 năm và trường dạy nghề cũng sẽ được trợ cấp từ năm 2020. Khoản đầu tư này là một phần trong mục tiêu của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm tăng năng suất lao động của Nhật Bản lên 10% trong vòng 4 năm tới. Thủ tướng cũng hứa sẽ trợ cấp chi phí giáo dục từ mẫu giáo đến đại học cho tất cả người dân Nhật Bản.
Các trường tư ở Nhật Bản chiếm 80% số lượng các trường đại học ở quốc gia này và thu học phí lên tới 1,2 triệu Yên hàng năm, học phí đầu vào cao nhất là 300.000 Yên, gấp đôi chi phí theo học một trường đại học quốc gia chất lượng thấp hơn.
Ở cấp mẫu giáo, theo OECD, Nhật Bản là quốc gia có sự bình đẳng giáo dục cao nhất thế giới. Tuy nhiên, ở cấp đại học, những sinh viên có điều kiện tài chính hạn chế có thể phải chọn theo học các trường có chất lượng thấp hơn nhưng chi phí phải chăng hơn, hoặc vay một khoản tiền lớn hơn để trang trải học phí ở các trường tư. Theo chương trình đang được đề xuất thì sinh viên có điều kiện tài chính khó khăn sẽ có cơ hội xin học bổng, trong đó Chính phủ sẽ trả học phí cho họ nếu được các trường đại học chấp thuận. Để giúp sinh viên sau khi ra trường có thể nhanh chóng trả các khoản nợ Chính phủ, Bộ Giáo dục Nhật Bản hỗ trợ họ bắt đầu các dự án khởi nghiệp hay sử dụng kiến thức và kĩ năng từ bậc đại học để tìm được môi trường làm việc tốt.
2. Hàn Quốc
Quốc gia châu Á khác cũng có sự đầu tư hiệu quả trong giáo dục, mang lại những thành công lớn đó là Hàn Quốc. Trong 4 năm qua, những thành tích của Hàn Quốc đạt được luôn được thế giới đánh giá cao. Năm 2017, tại Cuộc đánh giá 20 nền giáo dục hàng đầu thế giới NJ MED, năm thứ 4 liên tiếp Hàn Quốc đứng vị trí đầu. Mặc dù, Nhật Bản đang tăng hạng và thu hẹp khoảng cách 7 điểm thì có vẻ Hàn Quốc vẫn sẽ đứng vị trí số 1 trong các năm 2018-2022.
Ở cấp độ đại học, các trường đại học Hàn Quốc ít có tiếng tăm trên toàn cầu, tuy nhiên, quốc gia này xếp hạng 22 trong số 50 quốc gia trong Bảng xếp hạng hệ thống giáo dục đại học quốc gia năm 2018 bởi một mạng lưới các trường đại học chuyên về nghiên cứu khoa học. Trình độ học vấn cao tại Hàn Quốc đạt được nhờ một nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong vòng 70 năm qua.
Cùng với các nền kinh tế lớn khác tại châu Á là Hongkong, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc đã viết nên một câu chuyện thành công trong tăng trưởng kinh tế đáng chú ý nhất thế kỷ 20. Hàn Quốc hiện nay được biết đến là quốc gia công nghệ cao tiên tiến. Trọng tâm đầu tư quan trọng của Chính phủ Hàn Quốc là lĩnh vực giáo dục. Từ những năm 1980, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu đầu tư chiến lược vào phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Các hộ gia đình Hàn Quốc đồng thời dành nhiều nguồn lực cho giáo dục, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ việc đầu tư vào lĩnh vực này. Từ đầu những năm 1980 đến giữa những năm 2000, tỷ lệ nhập đại học của Hàn Quốc đã tăng gấp 5 lần. Trình độ học vấn của Hàn Quốc hiện nay có tầm quan trọng trong xã hội và có ảnh hưởng quyết định đến mức thu nhập và vị trí xã hội. Sinh viên tốt nghiệp 3 trường đại học hàng đầu Hàn Quốc thường giữ các vị trí quản lý, cấp cao trong các tập đoàn kinh tế lớn của quốc gia này.
Trong 25 năm qua, Hàn Quốc đã thu được tỷ lệ lợi nhuận rất cao từ đầu tư vào giáo dục, dao động khoảng 10%. Những người trẻ ở Hàn Quốc tin rằng đầu tư tiền vào giáo dục là lựa chọn khôn ngoan hơn gửi vào ngân hàng.
3. Singapore
Mặc dù là quốc đảo có diện tích hạn chế và dân số khá nhỏ nhưng Singapore là một trong những đầu tàu về giáo dục của khu vực châu Á. Singapore được biết đến với nền giáo dục toàn diện, cung cấp nhiều cơ hội phát triển cho học sinh, sinh viên. Kể từ khi lập quốc hơn 50 năm trước, giáo dục luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu - kiến trúc sư trưởng của đất nước Singapore, nhằm tạo ra nguồn nhân lực kế cận có chất lượng cao. 
Chính phủ Singapore luôn đầu tư “mạnh” cho lĩnh vực giáo dục bởi những tiềm năng lớn mà giáo dục chất lượng cao mang lại cho nền kinh tế và xã hội của quốc đảo này. Trong năm 2018, Chính phủ Singapore đã đầu tư 12,8 tỷ đôla Sing vào giáo dục. Số tiền đầu tư này vừa dành cho công tác trả lương giáo viên, cải thiện cơ sở hạ tầng, vừa để nâng cao chất lượng giảng dạy và hỗ trợ cho học sinh Singapore. Theo khảo sát của HSBC Holdings Plc, Singapore là nơi đứng thứ ba trên thế giới (chỉ sau Hồng Kông và Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất) về số tiền đầu tư cho mỗi học sinh từ tiểu học lên đến bậc đại học (ước gần 80.000 USD). Dù trên thực tế, học sinh của Singapore chỉ phải đóng khoản học phí rất thấp. Trong năm học 2017, Chính phủ Singapore trợ cấp khoảng 435.100 học sinh cấp một và cấp hai, ngoài ra còn có khoảng 80.100 sinh viên đang theo học đại học và sau đại học. Bất chấp việc đầu tư mạnh của Chính phủ, số liệu mới nhất về chỉ số giá tiêu dùng cho thấy chi phí giáo dục vào tháng 5/2017 tại Singapore đã tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, cao gấp đôi so với tỷ lệ lạm phát bình quân.
Mặc dù luôn được đánh giá là nền giáo dục chất lượng cao nhưng sau bên trong hệ thống giáo dục Singapore luôn có những thay đổi, cải cách lớn lao. Bộ Giáo dục Singapore vừa công bố danh sách “Các kỹ năng của thế kỷ 21” với mong muốn học sinh, sinh viên sẽ tích lũy được, trong đó có những kỹ năng mềm như tự nhận thức và đưa ra những quyết định có trách nhiệm. Phương pháp dạy học cũng đang thay đổi. Tất cả các giáo viên phải trải qua 100 giờ đào tạo mỗi năm, trong đó họ học các kỹ năng sư phạm mới như khuyến khích làm việc nhóm và sự trao đổi giữa giáo viên với học sinh. Một thay đổi khác là tạo ra môi trường học tập gần gũi nhất với nơi làm việc sau này. Đến năm 2023, gần như tất cả các trường học ở Singapore sẽ phải áp dụng các môn học như khoa học máy tính, robotic và điện tử, ngoài ra còn có văn hóa và thể thao. Trọng tâm là tạo ra môi trường cho phép học sinh thực hành như trong thế giới thực.
Với những nền tảng giáo dục chất lượng cao từ nhiều năm qua cùng với sự đầu tư đúng đắn của các chính phủ cũng như chính những người dân tại các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, hệ thống giáo dục của các quốc gia này ngày càng phát triển bền vững và đóng vai trò là đầu tàu cho các quốc gia trong khu vực trong đó có Việt Nam học hỏi.
II. Đầu tư giáo dục ở một số quốc gia châu Âu
 1. Anh Quốc
     Được coi là một trong những quốc gia có hệ thống giáo dục nổi bật bậc nhất trong cộng đồng học thuật quốc tế, nước Anh luôn là điểm đến tiềm năng và yêu thích của du học sinh quốc tế.
     Theo tài liệu “Education at a Glance 2017: OECD Indicators” – được công bố bởi OCED, nước Anh được xếp vào danh sách các quốc gia có chỉ số đầu tư cao nhất cho giáo dục năm 2014 – với khoảng 6,6% từ GDPđược dành làm ngân sách đầu tư cho các cấp từ giáo dục tiểu học đến đại học.
     Nước Anh cũng được biết đến với sự đầu tư lên đến hàng triệu bảng dành cho giáo dục trẻ em và thúc đẩy sự dịch chuyển xã hội (thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội của nhiều cộng đồng, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng suất dân số và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước.).
     Theo một tài liệu được công bố bởi website chính thức của chính phủ Anh vào tháng 8 năm 2018, quốc gia này đang tiến hành một sáng kiến ​​tập trung vào việc hỗ trợ giáo dục và phát triển trẻ em giai đoạn sớm. Ngoài ra, báo cáo này còn tiết lộ rằng, chính phủ đang đầu tư một quỹ trị giá 30 triệu bảng vào một kế hoạch hành động xã hội nhằm tạo ra những trường mầm non chất lượng cao phục vục giáo dục trẻ em.
     Nhìn chung, các nước đang có xu hướng điều chỉnh ngân sách vào giáo dục như là một khoản ‘đầu tư’ hơn là một khoản ‘trợ cấp’ – kinh phí.
2. Đan Mạch
     Đối với quốc gia châu Âu này, đầu tư vào giáo dục đã trở thành một cỗ máy để phát triển xã hội, kinh tế và con người.
     Theo số liệu do OECD cung cấp năm 2014, Đan Mạch đã chi tiêu 6,5% GDP của mình cho lĩnh vực giáo dục, trong đó 4,5% dành cho giáo dục tiểu học và trung học – đây được coi là mức đầu tư cao nhất trong khu vực.  Chính phủ Đan Mạch coi việc đầu tư vào giáo dục tiểu học và trung học là điều quan trọng nhất, bởi đây là giai đoạn cần thiết để xây dựng và hoàn thiện nhận thức cho học sinh trước khi bước vào đại học. Đây cũng là hai cấp học bắt buộc với trẻ từ 6 đến 17 tuổi.
     Nền giáo dục tại Đan Mạch được chính phủ trợ cấp gần như toàn bộ. Ngoài ra, vẫn có những chương trình đào tạo, các trường đại học tư nhân và thu phí.
     Với giáo dục Đại học, chính sách hỗ trợ sinh viên hàng tháng là một chính sách tích cực nhưng vẫn gây ra nhiều tranh cãi trong chính phủ. Bất chấp những chỉ trích, chính sách này vẫn được duy trì bởi thành công và danh tiếng mang tầm quốc tế mà giáo dục Đan Mạch đã đạt được trong những năm qua.
     Sự thành công trong quản lý giáo dục ở quốc gia Bắc Âu này phải kể đến sự hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Bộ Khoa học, Công nghệ và Đổi Mới. Đây là 2 cơ quan cùng chịu trách nhiệm thiết kế và lên kế hoạch thực hiện các chương trình giáo dục với sự tham gia của giáo viên và học sinh – những người ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện đào tạo và chất lượng của nó.
3. Na Uy
     Na Uy cũng là một trong những quốc gia phân bổ tỷ trọng GDP lớn cho đầu tư giáo dục, với 6,2% dành cho giáo dục tiểu học đến đại học năm 2014.  Tại Na Uy, ngân sách từ chính phủ dành cho giáo dục chiếm tỉ lệ rất cao so với khu vực tư nhân. Điều này cho thấy, chính phủ Na Uy đã đưa ra mức độ cam kết rất cao dành cho phát triển giáo dục – một trụ cột quan trọng trong nền kinh tế xã hội.
     Theo chỉ số B5 – ‘Sinh viên Đại học cần đóng học phí như thế nào và họ nhận được trợ cấp từ nguồn ngân sách nào?’  – trong báo cáo do OECD đưa ra; khoảng 75% sinh viên tại Na Uy được hưởng lợi từ các khoản vay chính phủ, các học bổng hoặc trợ cấp trong các năm 2015 đến 2016.  Nghiên cứu cũng ghi nhận rằng ở Na Uy, ‘các trường công lập miễn học phí và đồng thời hỗ trợ chi phí ăn ở’ cho học sinh, sinh viên. Ngược lại, các tổ chức tư nhân có mức học phí tiêu chuẩn hàng năm khoảng 5.100 USD. Quy định này không chỉ mang lại lợi ích cho sinh viên trong nước mà ngay cả du học sinh tại Na Uy cũng sẽ được hưởng lợi.
     Quốc gia Viking này cũng là đất nước có tỉ lệ tiếp cận giáo dục rất cao, sự liên lạc và kết nối chặt chẽ giữa học sinh, giáo viên, ban giám hiệu và cơ sở đào tạo. Chính sự liên kết chặt chẽ đó thúc đẩy phát triển các khía cạnh học tập, văn hóa, xã hội khác nhau cho học sinh: tôn trọng nhân phẩm, đa dạng văn hóa, tự do trí tuệ, bình đẳng và công bằng, đặc biệt là phát triển các kỹ năng tư duy phản biện – đặc trưng của nền giáo dục chất lượng cao.
   
(CLEF tổng hợp từ các nguồn: http://tapchimattran.vn/the-gioi/; https://eurolinkedu.com/)
 
Một số luận giải về triết lý giáo dục

Một số luận giải về triết lý giáo dục

Triết lý giáo dục là triết lý được áp dụng cho giáo dục như một lĩnh vực chuyên biệt trong quá trình nghiên cứu của nhân loại. Triết lý về giáo dục liên quan đến những tác động đặc trưng của triết học ảnh hưởng đến giáo dục. Triết lý giáo dục góp phần định hướng nền giáo dục của một quốc gia.
Chữ “Lễ” trong quan hệ thầy – trò

Chữ “Lễ” trong quan hệ thầy – trò

Nền giáo dục phong kiến trước đây đã khẳng định ý nghĩa của việc học trước tiên không phải học chữ, học kiến thức, mà là học lễ nghĩa - học làm người: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Trong phong tục và truyên thống xa xưa của dân tộc ta đã luôn coi trọng việc quan tâm đến người thầy, đề cao tình nghĩa thầy trò.
Tuyển sinh đại học Việt Nam đang đi ngược với thế giới

Tuyển sinh đại học Việt Nam đang đi ngược với thế giới

       Hiện nay, việc học sinh thi tốt nghiệp đạt điểm tuyệt đối vẫn không đỗ đại học đang khiến dư luận xã hội dậy sóng. Điều này cho thấy quy trình đào tạo, tuyển sinh đại học của ta có vấn đề.
      Để góp thêm cách nhìn nhận về vấn đề này, CLEF xin đăng tải bài viết của GS.TS. Nhà giáo nhân dân Võ Tòng Xuân – người có quan điểm cho rằng: quy trình tuyển sinh đại học của Việt Nam đang đi ngược với thế giới.
 
Sự tác động của COVID-19 đến giáo dục đại học nhìn từ quan điểm công bằng

Sự tác động của COVID-19 đến giáo dục đại học nhìn từ quan điểm công bằng

Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng nặng nề đến mọi quốc gia, đến mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là những nhóm thiểu số, trong đó có sinh viên, phải đối mặt với nhiều thách thức hơn. Để duy trì việc học tập, nhiều quốc gia đã thực hiện hình thức học trực tuyến (online), tuy nhiên ở những quốc gia có Internet chưa phổ biến và dung lượng băng thông thấp, cơ hội học tập trực tuyến bị hạn chế đáng kể. Các trường cao đẳng và đại học ở những quốc gia có thu nhập thấp phải vật lộn để triển khai những chương trình đào tạo từ xa có chất lượng, do thiếu những học giả có kinh nghiệm và thiếu nguồn lực.
CLEF xin giới thiệu bài viết của ông Jamil Salmi - Chuyên gia Giáo dục đại học toàn cầu và là thành viên Nghiên cứu tại Trung tâm Giáo dục Đại học Quốc tế, Boston College, Hoa Kỳ - phân tích về vấn đề này.
GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ

GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ

CLEF xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS.TS Ngô Minh Thủy, Viện trưởng CLEF, đã được trình bày và đăng trong kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Hope for the Future" do Quỹ One Asia và Trường ĐHNN- ĐHQG tổ chức năm 2018.
Giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới – kinh nghiệm cho Việt Nam

Giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới – kinh nghiệm cho Việt Nam

 
       Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ các học sinh chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, phát huy tối đa năng lực bản thân, đồng thời tạo ra một lực lượng lao động có định hướng rõ ràng, giúp tăng năng suất lao động và góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
       Việt Nam đang đứng trước những mâu thuẫn và áp lực lớn trong thị trường lao động. Giải quyết việc làm là một trong những khâu cực kỳ quan trọng nhằm phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đồng thời đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân, trong đó đặc biệt là của lực lượng lao động trẻ - lực lượng lao động chính trong tương lai của đất nước. Chính vì vậy, việc học tập kinh nghiệm về giáo dục hướng nghiệpphân luồng học sinh trung học phổ thông là hết sức cần thiết.
       Bài viết do CLEF tổng hợp dưới đây sẽ đưa ra một số kinh nghiệm về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học phổ thông tại một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam. 
Huy Anh CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - GIÁO DỤC QUỐC TẾ VIỆT TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG VIỆN QUỐC TẾ PHÁP NGỮ VOV2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CẦU GIẤY TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT HỒNG ĐỨC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA