GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Thứ Năm, 15/07/2021 12:31
CLEF xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS.TS Ngô Minh Thủy, Viện trưởng CLEF, đã được trình bày và đăng trong kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Hope for the Future" do Quỹ One Asia và Trường ĐHNN- ĐHQG tổ chức năm 2018.
GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ
 
MỞ ĐẦU
 
    Hội nhập quốc tế (International integration), một chiến lược của Việt Nam nhưng phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện đại. Tuy có nhiều cách định nghĩa, nhìn chung hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tăng cường tiến hành các hoạt động gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Như vậy, hội nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia.
Việt Nam từ nhiều năm nay đã rất quan tâm đến vấn đề này, thể hiện qua sự kiện Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế và thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu. Nghị quyết 22-NQ/TW nêu rõ hội nhập về kinh tế là mũi nhọn, nhưng chính phủ Việt Nam cũng luôn khẳng định quyết tâm đưa Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội.
   Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, hội nhập không chỉ có những cơ hội, thuận lợi, mà còn có không ít bất lợi, thách thức. Ngành giáo dục, lĩnh vực quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng nguồn nhân lực và là yếu tố then chốt trong việc phát triển nền kinh tế tri thức, tất nhiên cũng không phải là ngoại lệ. Trong bài viết này, tác giả bước đầu phân tích tình hình giáo dục tại Việt Nam và chỉ ra những cơ hội và thách thức, từ đó gợi mở một số giải pháp cho của giáo dục Việt Nam - đặc biệt là giáo dục đại học - trên con đường hội nhập quốc tế.
 
 
1. SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC VÀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
 
1.1. Hệ thống giáo dục tại Việt Nam và chính sách của Nhà nước đối với giáo dục
Giáo dục tại Việt Nam được quy định trong Hiến pháp như sau:
"Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác. Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn. Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng." (Điều 36, Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992).
Sau giai đoạn giáo dục mầm non, giáo dục ở Việt Nam được tiến hành theo công thức 5-4-3-4 (5 năm tiểu học, 4 năm trung học cơ sở, 3 năm trung học phổ thông, 4 năm đại học). Cấu trúc của hệ thống giáo dục Việt Nam được thể hiện như trong sơ đồ dưới đây.
 
Sơ đồ 1: Hệ thống giáo dục quốc dân Việt  Nam từ 10/2016
 
 
 
 
Khác với nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam chưa thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm (hết cấp THCS) với sự bao cấp hoàn toàn của Nhà nước. Cấp tiểu học ở Việt Nam được gọi là giáo dục phổ cập, và Nhà nước thực hiện chính sách phổ cấp giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi. Tuy nhiên, ở những vùng sâu vùng xa vẫn còn có những trường hợp trẻ em thất học, hoặc không học hết 5 năm của giai đoạn giáo dục phổ cập.
Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5% GDP. Đây là mức rất cao so với nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam rất nhiều  như sơ đồ dưới đây.
 

(Dẫn theo Đinh Thị Nga, Tạp chí Tài Chính, 29/10/2017)
 
Tính theo GDP, chi tiêu công cho giáo dục, đào tạo/GDP của Việt Nam năm 2012 chiếm 6,3%, cao hơn rất nhiều so với các nước có cùng trình độ phát triển, như được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
 

                                        (Dẫn theo Đinh Thị Nga, Tạp chí Tài Chính, 29/10/2017)
 
1.2. Giáo dục đại học tại Việt Nam
  Giáo dục đại học ở Việt Nam đã có lịch sử hơn một ngàn năm, với các giai đoạn khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Trường đại học kiểu phương Tây đầu tiên ở Việt Nam (ĐH Đông Dương) được thành lập tại Hà Nội năm 1906. Sau Cách Mạng tháng Tám năm 1945, giáo dục đại học tại Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt và đã đạt được những thành tựu to lớn. Theo thống kê của Bộ giáo dục và Đào tạo, năm 2014 tại Việt Nam có 472 trường đại học và cao đẳng. Nếu chỉ tính riêng cơ sở giáo dục đại học, đến hết năm học 2016-2017, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có 235 trường, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ. Số lượng sinh viên là 1,76 triệu người. Tỉ lệ học sinh phổ thông vào đại học, cao đẳng là 41%.
Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam gồm bốn loại hình đại học sau:
  1. Đại học quốc gia: gồm Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hai cơ quan giáo dục đại học đặc biệt, đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao và trực thuộc chính phủ. Mỗi đại học quốc gia bao gồm các trường đại học thành viên, các viện nghiện cứu, các trung tâm, các khoa trực thuộc và nhiều cơ quan khác. Giám đốc đại học quốc gia do Thủ tướng bổ nhiệm.
  2. Đại học vùng: mô hình tương tự như đại học quốc gia, nhưng trực thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo. Giám đốc đại học vùng do Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm. Hiện có 3 đại học vùng, gồm: đại học Thái Nguyên, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế.
  3. Các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo: ví dụ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Cần thơ….
  4. Các trường đại học trực thuộc một số bộ/ ngành: ví dụ trường Đại học Kiến trúc Hà Nội trực thuộc Bộ Xây dựng.
    Bộ giáo dục và Đào tạo là cơ quan thay mặt Nhà nước quản lý giáo dục và đào tạo của quốc gia, nên về nguyên tắc, tất cả 4 loại hình  đại học nêu trên đều chịu quản lý nhà nước về giáo dục từ Bộ giáo dục và Đào tạo. Như vậy, các trường đại học thuộc bộ/ ngành sẽ trực tiếp chịu sự chỉ đạo của 2 cơ quan cấp trên, gồm Bộ Giáo dục và Đào tạo và bộ/ ngành quản lý (ví dụ Trường Đại học kiến trúc do Bộ Xây dựng trực tiếp quản lý và Hiệu trưởng của Trường là do Bộ trưởng Xây dựng bổ nhiệm. Trong hoạt động, ngoài việc báo cáo Bộ Xây dựng, Trường  Đại học Kiến trúc Hà Nội cũng cần báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo từ góc độ quản lý giáo dục.)
Hai đại học quốc gia được sự đầu tư và ưu tiên đặc biệt từ chính phủ, có quyền tự chủ cao nhất và có nhiều thẩm quyền đặc biệt so với các cơ quan giáo dục đại học khác. Tuy nhiên, theo  Dự thảo Luật giáo dục 2018 (đang được trình Quốc hội xem xét), các trường đại học khác cũng sẽ được tăng quyền tự chủ rõ rệt.
 
2. HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ THÀNH TỰU
 
 Chính sách Đổi mới năm 1986 mở đầu cho những thay đổi toàn diện của Việt Nam nói chung, của ngành giáo dục nói riêng. Từ thời điểm này, Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, ban hành quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục. (Giai đoạn 1975 đến trước năm 1986, các trường tư thục không được công nhận.)
Nhờ thành quả phát triển kinh tế và chính sách mở cửa, người dân được tiếp cận với nhiều loại hình giáo dục, nhiều cơ hội giáo dục khác nhau. Sự hội nhập và phát triển kinh tế cũng gia tăng nhu cầu về nhân lực, tạo động lực cho việc học tập của người dân. Ngoài ra, tâm lý coi trọng bằng cấp, học vị của người Việt (thường bị phê phán), cũng là một trong những lý do thúc đẩy sự thành lập và phát triển các tổ chức giáo dục, đặc biệt là các trường đại học.
 Nhờ có chính sách mở cửa, các tổ chức giáo dục nước ngoài ngày càng tăng cường sự hiện diện tại Việt Nam. Đồng thời, nhiều loại hình liên kết giáo dục giữa Việt Nam với các quốc gia khác cũng được mở ra ở các cấp học, không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ hội học tập cho người dân, mà còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức giáo dục, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục.
Với tỷ lệ 20% ngân sách quốc gia được chi tiêu cho giáo dục, cộng với nhiều nguồn kinh phí tài trợ hoặc các chương trình vốn vay ưu đãi phục vụ giáo dục, có thể nói giáo dục Việt Nam  đã và đang được ưu tiên đặc biệt của Nhà nước so với các lĩnh vực khác.
Song song với sự ưu tiên đặc biệt về ngân sách, chính phủ cũng đang thực hiện nhiều chương trình, dự án lớn đối với giáo dục: các dự án đổi mới chương trình giáo dục, giáo trình/ sách giáo khoa; đổi mới thi cử (đặc biệt là từ năm 2017, với sự sáp nhập kỳ thi tốt nghiệp trung học với kỳ thi đại học); đề án quốc gia về giáo dục ngoại ngữ đến năm 2020 (và được kéo dài đến 2025); đề án thí điểm tự chủ hóa giáo dục đại học với 23 trường đại học đang tham gia (tính đến năm 2018) và rất nhiều cải cách khác… Điều đó đã tạo nên bức tranh rất phong phú của giáo dục Việt Nam hiện nay.
Xác định vai trò quan trọng của hội nhập quốc tế, chính phủ cũng đã ưu tiên xúc tiến nhiều chương trình hợp tác trong giáo dục. Bộ giáo dục và đào tạo đã triển khai hiệu quả nhiều hiệp định, thỏa thuận với nước ngoài về hợp tác giáo dục, đặc biệt là công nhận văn bằng, tín chỉ với các nước trong khu vực và một số nước trên thế giới, thí điểm một số mô hình giáo dục của một số nước có nền giáo dục tiên tiến, liên kết đào tạo với nước ngoài. Tính đến cuối năm 2017, ở các trường đại học trên toàn quốc có hơn 500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế với các trường đại học ở các nước trên thế giới.
Chính sách mở cửa thông thoáng trong giáo dục cũng tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên Việt Nam sang nước ngoài du học theo hình thức tư phí hoặc có học bổng. Theo ước tính, năm 2016, Việt Nam có 110 ngàn học sinh du học tại 47 quốc gia trên thế giới, với chi phí khoảng 3 tỷ đô la Mỹ. (Nhuệ Mẫn, “Đầu tư chứng khoán”, 9/6/2016). Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến thời điểm năm 2017, số lượng du học sinh Việt Nam tại nước ngoài đã tăng lên con số 130.000 người, tăng hơn gấp đôi so với năm 2009. (Nam Việt, báo Quảng Nam ngày 7/3/2017 http://baoquangnam.vn/the-gioi/201703/du-hoc-sinh-viet-nam-o-nuoc-ngoai-tang-manh-726389/. Năm 2017, Bộ Giáo dục và đào tạo quản lý 6.628 lưu học sinh (LHS) theo diện học bổng ngân sách nhà nước và diện hiệp định tại 46 quốc gia. Trong năm học 2016-2017, Bộ đã cử đi du học 1.771 LHS, trong đó 845 nghiên cứu sinh tiến sĩ (48%), 314 học viên thạc sĩ (18%) và tiếp nhận về nước 1252 LHS. Bộ này đang theo dõi và quản lý 15.156 LHS của 56 quốc gia đang học tập tại Việt Nam, trong đó diện Hiệp định là: 3.199 LHS của 16 nước. Năm học 2016-2017, có 1.115 LHS diện hiệp định tốt nghiệp và tiếp nhận mới 750 LHS của 15 nước. ( Lê Văn, “Những con số "biết nói" về giáo dục đại học Việt Nam”, Vietnamnet, ngày 11/08/2017).
 
3. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
 
Một thách thức thường được nói đến đối với giáo dục Việt Nam khi hội nhập thế giới là phải tiệm cận các tiêu chuẩn chung của thế giới mà không đánh mất bản sắc. Nhưng thực ra thách thức đối với giáo dục Việt Nam có nhiều hơn thế.
Đối với giáo dục phổ thông, chúng ta có thể chỉ ra ba vấn đề nổi bật như sau:
Thứ nhất là về vấn đề thiếu thốn cơ sở vật chất và sự chênh lệch giữa các vùng miền trong điều kiện dạy - học. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng tại Việt Nam sự chênh lệch giữa miền núi với đồng bằng, nông thôn với thành thị về cơ sở vật chất phục vụ giáo dục còn rất lớn. Không ít những vùng miền còn thiếu trường/ lớp hoặc có trường /lớp nhưng xã xôi và có điều kiện rất tồi tàn, gây khó khăn cho việc học tập của các em nhỏ. Trong khi đó, ở những vùng kinh tế phát triển, kinh phí cho giáo dục không chỉ đến từ Nhà nước, mà còn từ rất nhiều nguồn khác như các khoản tài trợ, sự đầu tư của các doanh nghiệp, kinh phí xã hội hóa v.v.. Sự chênh lệch về điều kiện giáo dục cũng tồn tại giữa các trường tư thục và trường công lập, bất chấp các quy định về giáo dục phổ cập trên nguyên tắc bình đẳng.
Thứ hai là việc thiếu hụt đội ngũ giáo viên giỏi, đặc biệt là ở những vùng xa xôi hoặc kém phất triển. Chính sách đãi ngộ chưa phù hợp đã không tạo được động lực cho nhiều người xuất sắc có nguyện vọng trở thành giáo viên, nhất là giáo viên ở những vùng sâu, vùng xa. Nhu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi đội ngũ giáo viên có những năng lực, phẩm chất tiệm cận với tiêu chuẩn chung của thế giới, và hơn ai hết, muốn tạo ra các công dân mang tính toàn cầu và có khả năng hội nhập cao, chính các giáo viên phải là những người tinh túy và tiên phong trong việc tiếp cận các tri thức hiện đại.
Thứ ba, chương trình học tập từ nhiều năm nay vẫn luôn bị phê phán là quá giáo điều, quá nghiêng về lý thuyết mà bỏ qua các nội dung về kỹ năng, thực hành, trong khi giáo dục phổ thông của các nước phát triển trên thế giới đã có những thành quả lớn về giáo học học hiện đại. Bên cạnh đó, trong một thời gian dài, do ảnh hưởng của việc thi cử và tâm lý học để thi, một số môn học như Giáo dục luật pháp, giáo dục công dân, giáo dục đạo đức chưa được chú trọng, hoặc là được giảng dạy một cách hình thức, giáo điều nên chưa đạt hiệu quả. Trong khi đó, một đất nước hội nhập đòi hỏi các công dân của mình phải hiểu biết pháp luật, có tinh thần trách nhiệm cao và vốn hiểu biết văn hóa- xã hội sâu sắc về cả đất nước mình cũng như các quốc gia khác.
Giáo dục đại học lẽ ra là khu vực dễ dàng tiếp cận với giáo dục thế giới nhất, thì trên thực tế lại là khu vực chứa đựng nhiều bất cập nhất. Chúng tôi xin điểm qua một số vấn đề dưới đây.
Thứ nhất, cũng như giáo dục phổ thông, tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất của các trường đại học là vấn đề cần cải thiện. Một số trường đại học công lập và một số trường đại học tư thục có khuôn viên khang trang, nhưng rất nhiều trường đại học, kể cả những trường khá danh tiếng, đều chưa có khuôn viên đủ rộng, xứng với tầm “không gian sáng tạo” cho thầy và trò. Trang thiết bị, phòng thí nghiệm, phòng học, thư viện và học liệu trong thư viện... của nhiều trường đại học còn thiếu; không gian dành cho việc học tập, sinh hoạt của sinh viên chưa đủ hoặc còn rất đơn giản, thô sơ. Rất ít trường đại học công lập có thể trang bị cho mỗi giáo sư, phó giáo sư một phòng làm việc riêng biệt (và tất nhiên là việc cung cấp cho mỗi giảng viên một phòng hay một không gian làm việc riêng tại trường càng là điều khó khăn.) Dĩ nhiên, nếu so sánh với điều kiện vật chất của giáo dục thời kỳ trước đổi mới hoặc khoảng 10-15 trước đây thì cơ sở vật chất hiện nay đã có những cải thiện đáng kể, nhưng nếu so sánh với các trường đại học của các nước phát triển trên thế giới thì còn là một khoảng cách quá xa. Chính điều đó, cùng với việc thiếu vắng các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài, đã làm hạn chế việc tiếp nhận sinh viên của các nước phát triển hơn đến học tập tại các trường đại học Việt Nam, nhất là đối với các chương trình dài hạn. Đó cũng chính là một trong những lý do khiến rất nhiều sinh viên Việt Nam đi du học tự phí ở nước ngoài với một khoản đầu tư không hề nhỏ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc học sinh, sinh viên của nước này đi du học ở nước khác là xu thế tất yếu, nhưng nếu hoạt động du học chỉ theo một chiều, thì đó là sự mất cân đối từ nhiều phương diện, bao gồm cả phương diện tài chính.
Thứ hai, hoạt động khoa học công nghệ ở các trường đại học Việt Nam còn rất khiêm tốn, ngay cả so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Theo thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm từ 1996 - 2011, Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan (69.637),  1/6 của Malaysia (75.530), và 1/10 của Singapore (126.881). Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, 3 lần Malaysia và gần gấp 1,5 lần Thái Lan. Số công bố khoa học của Việt Nam trong vòng 15 năm qua chưa bằng 1/5 số công bố của trường ĐH Tokyo (69,806 công bố) và một nửa của trường ĐH quốc gia Singapore (28,070 công bố).  (Theo Nguyễn Dạ Thảo, “Đổi mới giáo dục đại học theo định hướng hội nhập quốc tế”, Trường Đại học Thái Bình Dương, http://pou.edu.vn/khoatckt/news/doi-moi-giao-duc-dai-hoc--theo-dinh-huong-hoi-nhap-quoc-te.254).  Điều đó có nhiều nguyên nhân như sau: 1) Điều kiện tiếp cận với khoa học công nghệ và trí thức tiên tiến của giáo viên còn hạn chế; 2) Một số trường đại học còn coi nhẹ hoạt động nghiên cứu của giảng viên; 3) Điều kiện tiến hành nghiên cứu ở nhiều trường đại học còn thiếu thốn; 4) Chế độ lương của các cơ quan công lập Việt Nam nói chung và của ngành giáo dục nói riêng còn quá thấp so với mức chi trả của thị trường, bởi vậy để đảm bảo cuộc sống, nhiều giảng viên đảm nhiệm các lớp dạy thêm hoặc các công việc khác để tăng thu nhập và hệ quả là thời gian dành cho nghiên cứu còn rất ít.
Thứ ba là ở Việt Nam đang có 2 xu hướng đối lập nhau và thậm chí cực đoan trong quan điểm về vai trò, chức năng của các trường đại học. Xu hướng thứ nhất quá coi trọng giáo dục nghề nghiệp, và vô hình trung biến trường đại học thành một cơ sở dạy nghề. Quan điểm này, về bản chất, là quay trở lại với mô hình đại học Trung cổ mà Immanuel Kant (1724-1804) - cha đẻ của giáo dục đại học hiện đại - đã phê phán, trong đó các khoa Thần học, Luật học và Y học, vốn có chức năng dạy nghề được coi là Thượng khoa, trong khi Khoa triết học (bao gồm cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn) có chức năng khai sáng lại bị coi là Hạ khoa. (Tình trạng tương tự cũng từng tồn tại ở phương Đông, khi các trường đại học chính là trường dạy làm quan, hay quản trị công theo ngôn ngữ hiện đại.) Rõ ràng là những người theo xu hướng này đã đi ngược lại quan điểm về giáo dục đại học hiện đại do Kant và Wilhehm von Humboldt - người xây dựng trường đại học HIỆN ĐẠI đầu tiên ở phương Tây tại Berlin (1810)- khởi xướng. (Kant cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục đại học là KHAI SÁNG, giúp cho người học trở thành người có khả năng sử dụng lý trí tự do, có khả năng hoàn thiện bản thân và tham gia cải biến xã hội.) Việc quá coi trọng dạy nghề trong trường đại học làm giảm tính học thuật của các trường đại học (vấn đề yếu kém trong nghiên cứu cũng là một hệ quả của quan điểm giáo dục này).  Xu hướng thứ hai, ngược lại, là những người cực đoan hóa quan điểm của Kant và Wilhehm von Humboldt. Cụ thể những người theo xu hướng này lại quá coi trọng những vấn đề lý thuyết, xa rời thực tế, trong khi giáo dục đại học ngoài chức năng giáo dục khai sáng và những hoạt động mang tính học thuật thì cũng cần góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp tham gia vào đời sống kinh tế xã hội - nguồn nhân lực không chỉ có kiến thức, lý luận, mà còn có đầy đủ các kỹ năng thực hành.
Bên cạnh đó, việc chưa phân định rõ được ranh giới giữa đại học mang tính thực hành và đại học nghiên cứu cũng thêm một rào cản đối với giáo dục đại học Việt Nam trong sự hội nhập với giáo dục đại học của các nước tiên tiến.
Thứ tư, chương trình giáo dục đại học còn khá cứng nhắc, chậm cập nhật so với sự phát triển của thế giới. Mặc dù trong những năm qua đã có nhiều sự đổi mới về chương trình giáo dục (như chuyển từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ, cập nhật khung đánh giá GPA, coi trọng chuẩn đầu ra trong việc xây dựng chương trình đào tạo, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường việc công nhận tín chỉ lẫn nhau giữa các trường đại học trong nước và với các trường nước ngoài, công nhận và áp dụng chuẩn quốc tế đối việc đánh giá năng lực ngoại ngữ, năng lực tin học song song với áp dụng chuẩn quốc gia v.v..), nhưng còn nhiều quy định cứng về ngành nghề đào tạo, môn học v.v. khiến các trường đại học khó năng động trong việc đổi mới và cập nhật chương trình và nội dung  giáo dục so với sự phát triển nhanh chóng của thế giới.
Thứ năm, tâm lý coi trọng bằng cấp, nhìn từ góc độ tiêu cực, lại khiến cho nhiều sinh viên có tâm lý học tập một cách hình thức (hư học), với mục đích có tấm bằng đại học mà không quan tâm đến kiến thức. Hệ quả là ở một số nơi, tấm bằng đại học không phản ánh đúng bản chất của nó, một số ngành đào tạo cung lớn hơn cầu, trong khi nhu cầu của xã hội về những người lao động có tay nghề cao thì vẫn không được đáp ứng. Những khảo sát gần đây cho thấy nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp, trong khi các cơ sở sản xuất vẫn thiếu thợ lành nghề.
 
4.VẤN ĐỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
 
Tự chủ đại học là một xu hướng tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu tự thân của sự phát triển giáo dục, nhưng đối với đại học Việt Nam, vốn có theo mô hình quản lý tập trung kiểu Liên Xô cũ, đó lại là một vấn đề rất khó khăn. Do tầm quan trọng và tính phức tạp của vấn đề, chúng tôi xin trình bày riêng trong phần dưới đây.
 
4.1. Vấn đề tự chủ đại học trên thế giới
Tự chủ là vấn đề cốt lõi của đại học. Như ở trên đã trình bày, nhiệm vụ cơ bản của giáo dục đại học hiện đại, theo Immanuel Kant, là KHAI SÁNG, nghĩa là giúp người học thoát khỏi tình trạng vị thành niên về trí tuệ để “sử dụng tri thức của mình mà không cần sự chỉ dẫn của người khác”. Ông cho rằng để thực hiện được vai trò KHAI SÁNG, đại học phải được hưởng quy chế tự trị để lý trí được vận hành tự do.
Tự chủ đại học hiểu một cách đơn giản là mức độ được tự quyết định của trường đại học/ cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) trong việc thực hiện các hoạt động của nhà trường, bao gồm các lĩnh vực tài chính, cơ cấu tổ chức, nhân sự, đào tạo, nghiên cứu, hợp tác phát triển, khai thác và cung cấp dịch vụ v.v... và liên quan đến các hoạt động đó là xác định tầm nhìn, sứ mệnh của nhà trường cũng như các chính sách liên quan (trong khuôn khổ quy định của luật pháp). Nói cách khác, nội dung của tự chủ đại học là khả năng một trường đại học được hoạt động theo cách thức mình lựa chọn để đạt được sứ mạng về mục tiêu do trường đạt ra. Hiện nay, một số trường đại học trên thế giới đang thực hiện quy chế tự trị. Tuy nhiên, tùy theo các thể chế chính trị, xã hội khác nhau ở các nước khác nhau, các trường đại học trên thế giới hoạt động cũng rất khác nhau.
Mức độ tự chủ đại học thể hiện ở mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với cơ sở GDĐH, chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Báo cáo của World Bank 2008 đưa ra 4 mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau:
1) mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control), ví dụ: Malaysia
2)  mô hình bán tự chủ (semi-autonomous), ví dụ:  Pháp, New Zealand
3) mô hình bán độc lập (semi-independent), ví dụ: Singapore
4) mô hình độc lập (independent), ví dụ:  Anh, Úc
 Tuy vậy, ngay cả trong mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn thì cơ sở GDĐH vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định bởi Nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của cơ sở GDĐH vì những lý do tài chính và thực tiễn; trong mô hình độc lập vẫn có những mặc định ngầm về quyền của Nhà nước quản lý, nắm giữ một số mặt, như chiến lược phát triển của nhà trường và có quyền yêu cầu nhà trường giải trình khi cần thiết.
Nếu nhìn từ quan điểm địa lý, có thể thấy rằng các nước ở các khu vực khác nhau có mức độ tự chủ đại học khác nhau. Trong cùng một quốc gia, mức độ tự chủ của các trường đại học cũng có thể rất khác nhau tùy theo tính chất, chất lượng của các trường đại học đó. Ở một số nước vẫn tồn tại song song các trường đại học được trao quyền tự chủ tuyệt đối và các trường vẫn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Tuy vậy, xu hướng chung hiện nay là chuyển dịch dần từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn, nói cách khác là chuyển từ mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) sang Nhà nước giám sát (state supervison).
 
4.2. Tình hình thực hiện tự chủ đại học ở Việt Nam
Vấn đề tự chủ đại học tại Việt Nam đã được đề cập từ năm 2005, trong Luật Giáo dục, với nội dung tương tự quan niệm của các nước phát triển: “Trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các hoạt động sau đây: 1. Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo; 2. Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng; 3. Tổ chức bộ máy nhà trường; tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đãi ngộ nhà giáo, cán bộ, nhân viên; 4. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực; 5. Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của Chính phủ.”
Quyền tự chủ được tái khẳng định trong Luật Giáo dục đại học (GDĐH) năm 2012: “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CN, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.”.  Từ thời điểm này, về học thuật, lần đầu tiên các trường được tự chủ xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh; tự in phôi bằng, cấp bằng cho tất cả các trình độ mà trường đào tạo. (* Dẫn theo bản rút gọn bài trình bày của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết tại diễn đàn thường niên Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam, diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại TP Hồ Chí Minh.)
Tiếp đó, ngày 24/19/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP về việc thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập (giai đoạn 2014-2017).  Nội dung của Nghị quyết này được tóm tắt như sau:
1) Cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập khi cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện; đồng thời tăng mức cho vay ưu đãi đối với sinh viên của các trường được giao tự chủ. (Theo đó, cơ sở được quyết định mở ngành, chuyên ngành đào tạo theo nhu cầu xã hội khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; xác định chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh, đảm bảo công khai, minh bạch; được quyết định liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài trên cơ sở chương trình liên kết đã được kiểm định chất lượng; quyết định hướng nghiên cứu, khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học; quyết định việc sử dụng tài sản, cơ sở vật chất và giá trị thương hiệu của nhà trường để liên doanh, liên kết thực hiện các hoạt động khoa học công nghệ, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn.)
2)  Về học phí, trường được quyết định mức học phí bình quân của chương trình đại trà, nhưng phải đảm bảo tối đa bằng mức trần học phí do Nhà nước quy định cộng với khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cấp bình quân cho mỗi sinh viên công lập trong cả nước; quyết định mức học phí cụ thể (có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức học phí bình quân) đối với từng ngành, nghề, chương trình đào tạo theo nhu cầu người học và chất lượng đào tạo, bảo đảm mức học phí bình quân trong nhà trường không vượt quá giới hạn mức học phí bình quân tối đa nêu trên; đặc biệt, các mức học phí này phải được công khai cho người học trước khi tuyển sinh.
3)  Các trường đại học tự chủ phải xây dựng, thực hiện chính sách cấp học bổng với sinh viên xuất sắc, sinh viên giỏi và sinh viên là đối tượng chính sách; thực hiện miễn, giảm học phí cho sinh viên nghèo, đối tượng chính sách và hỗ trợ phần chênh lệch giữa mức hỗ trợ của Nhà nước với mức học phí của nhà trường; đồng thời phải ưu tiên bố trí nơi ở cho các đối tượng trên; miễn, giảm tiền thuê ký túc xá và các chính sách khác tùy theo điều kiện của từng trường...
Thực hiện Nghị định trên của Chính phủ, đến hết năm học 2016-2017, có 23 cơ sở giáo dục đại học công lập được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm tự chủ đổi mới cơ chế hoạt động theo quy định của Nghị quyết. Sau một số năm thực hiện thí điểm tự chủ đại học, các nhà quản lý và chuyên gia về quản trị đại học đã tiến hành khảo sát. Dưới đây là một số nét chính về tình hình chung và kiến nghị từ các nhà giáo dục, với các dữ liệu và ý kiến của các chuyên gia.
a.  Tự chủ về tổ chức
  Việc thành lập các đơn vị trong trường nhìn chung đã có quyền chủ động cao hơn rất nhiều, tuy nhiên, vẫn có sự chi phối, giám sát chặt chẽ.
b. Tự chủ về tài chính
    Nguồn từ ngân sách nhà nước chiếm từ 30% - 40% tổng thu của các trường đại học hàng năm. Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, bao gồm nguồn thu từ sinh viên và các nguồn thu khác chiếm khoảng 60% - 70% tổng nguồn thu của các trường. Như vậy, có thể thấy bình quân các trường đại học tự đảm bảo cân đối chi thường xuyên được khoảng 75% từ nguồn thu sự nghiệp. Ngoài ra, học phí được quy định ở một khung nhất định như đã nêu trong nghị định. Mức học phí này chưa thực sự đáp ứng với nhu cầu cải tiến điều kiện hoạt động của nhà trường để có những bước đột phá trong phát triển và nâng cao chất lượng.
c. Tự chủ về nhân lực
 Các trường đã có quyền chủ động hơn trong việc tuyển dụng. Tuy nhiên, việc chi trả lương cho cán bộ, giáo viên các trường về cơ bản vẫn phải tính theo hệ số lương cơ bản do nhà nước quy định. Vì vậy, các trường  vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao thu nhập cho người lao động, thu hút các giảng viên và các nhà khoa học có trình độ cao về làm việc cho nhà trường.
d. Tự chủ về các hoạt động
Hoạt động đào tạo
- Khảo sát cho thấy quyền tự chủ trong lĩnh vực kế hoạch tuyển sinh vẫn còn nhiều mặt hạn chế, chỉ có 28% các trường đại học đã thực sự thực hiện tự chủ về vấn đề tuyển sinh và khoảng 44% trường đại học có quyền tự chủ về vấn đề đào tạo. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo công tác tuyển sinh, vì vậy, các trường đại học đang còn bị phụ thuộc ở nhiều khâu như ngày tổ chức kỳ thi (tuyển sinh trong cả nước), hình thức thi v.v..
- Các trường cũng chưa được hoàn toàn tự chủ về chương trình đào tạọ.
- Về xây dựng kế hoạch giảng dạy qua điều tra có 66% ý kiến cho các trường đã có đầy đủ quyền hạn. Về việc tổ chức biên soạn, duyệt và thẩm định giáo trình có 70% ý kiến điều tra cho các trường đã có đầy đủ quyền hạn.
Hoạt động khoa học công nghệ:
      Còn nhiều hạn chế do nguồn kinh phí hạn hẹp; vẫn bị giới hạn mức chi và thủ tục thanh toán.
 
4.3. Một số khó khăn, hạn chế trong việc thực thi tự chủ đại học tại Việt Nam
Một trong những khó khăn trong việc thực thi tự chủ đại học tại Việt Nam là chưa có sự thống nhất và rõ ràng trong các văn bản về tự chủ đại học. Theo giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, một trong những khó khăn lớn là do có thể các nhà lập pháp chưa hiểu hết chiều sâu của những quy định về tự chủ đại học và các nhà quản lý chưa sẵn sàng thực hiện chúng. Ông chỉ ra rằng  ngay trong Luật Giáo dục có thể tìm thấy những quy định trái chiều. Bên cạnh đó, hiện nay nhiều quy định văn bản pháp lý chưa kịp thay đổi để hỗ trợ cho các trường đại học tự chủ. Nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 của Chính phủ chỉ mới là thí điểm nên các văn bản pháp luật không thay đổi theo. Tại các trường đại học công lập, do sự thiếu định hướng từ các cơ quan quản lý nhà nước, các trường còn khá lúng túng trong việc xây dựng chiến lược và tầm nhìn rõ rệt cho mình. (* Dẫn theo bản rút gọn bài trình bày của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết tại diễn đàn thường niên Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam, diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại TP Hồ Chí Minh.)
Một khó khăn khác là theo quy định về tài chính, các trường công thực hiện tự chủ vẫn cần có nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, trong khi nguồn ngân sách cấp cho giáo dục đại học còn hạn chế, cơ chế phân bổ ngân sách vẫn còn những điểm bất hợp lý hoặc mang tính bình quân giữa các trường đại học công lập, chưa gắn với các tiêu chí phản ánh chất lượng và kết quả đầu ra, chưa thực sự. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu động lực cạnh tranh giữa các trường đại học. Các trường thuộc khu vực miền Trung có nhiều sinh viên thuộc diện chính sách (20 - 30% tổng số sinh viên), được Nhà nước miễn, giảm học phí, nhưng Nhà nước lại không được cấp bù khoản kinh phí này.
Cơ cấu nguồn tài chính của các trường đại học công lập Việt Nam chưa hợp lý. Theo Ngân hàng Thế giới (2008), sự kiểm soát và lệ thuộc về nguồn tài chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khó khăn trong công tác quản lý tại các trường đại học công lập. Theo thống kê, trong tổng số nguồn lực tài chính của các trường công lập, ngân sách đào tạo chiếm khoảng 68%, học phí chiếm khoảng 26%, các khoản thu khác chiếm khoảng 6%.  Nguồn tài chính cho các hoạt động khoa học công nghệ cũng như nguồn tài chính từ các hoạt động hợp tác doanh nghiệp không đáng kể. Tỉ lệ này rất khác so với các trường đại học ở các nước tiên tiến. Nguồn ngân sách được cấp là nguồn thu chủ yếu và lệ thuộc rất lớn vào quy mô hay cụ thể hơn là số lượng sinh viên đầu. Phần do quy mô sinh viên tăng nhanh hơn so với sự gia tăng giảng viên, phần khác để tiết kiệm chi phí, một số trường ghép lớp làm tăng sỹ số sinh viên, điều ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo.
Cuối cùng, một khó khăn cũng cần phải giải quyết, đó là sự thống nhất trong cách hiểu về tự chủ đại học ở Việt Nam. Hiện nay, tại Việt Nam, cách hiểu về tự chủ đại học chưa thống nhất: Có người cho rằng tự chủ đại học đơn thuần là việc “mình thích gì thì làm cái đó”, có người cho rằng tự chủ đại học là việc tự chủ về tài chính: ta muốn thu bao nhiêu và sử dụng bao nhiêu là do ta quy định, trong khi, thực ra, theo như quy định hiện nay, tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay là sự “phân cấp quản lý”, không phải là sự tự chủ hoàn toàn hay là sự “tự trị đại học”. Dẫu rằng trong thời gian tới, Chính phủ sẽ có những thay đổi, làm hoàn hiện hơn hệ thống văn bản về tự chủ đại học (tháng 7 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Quốc hội Dự thảo Luật giáo dục sửa đổi, trong đó có phần về tự chủ giáo dục đại học), chúng ta vẫn cần xác định rằng đó là sự tự chủ trong một khuôn khổ nhất định và phải tuân theo một số quy định trong đó cao nhất là luật pháp nói chung và luật giáo dục nói riêng, đồng thời vẫn có những ràng buộc nhất định, bởi, giáo dục, suy cho cùng, cũng là một lĩnh vực trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. (Cái quan trọng là cần làm minh bạch, rõ ràng  những “hạng mục” cần được tự chủ và mức độ được tự chủ, cùng với những chính sách đi kèm sao cho thật văn minh, tiến bộ để các trường đại học có thể phát triển một cách tốt nhất. )
 
5. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO GIÁO DỤC VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
 
Để công cuộc hội nhập đem lại thành công, vừa đảm bảo sự phát triển của giáo dục Việt Nam theo những tiêu chuẩn chung của thế giới, vừa đảm  bảo tính đặc thù của giáo dục Việt Nam trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của quốc gia, có rất nhiều việc phải làm. Dưới đây là một số đề xuất của chúng tôi. 
1. Cần xóa bỏ hoặc thu hẹp tối đa sự khác biệt về điều kiện giáo dục giữa vùng nông thôn và thành thị, đặc biệt là đối với giáo dục phổ thông, trong đó giáo dục tiểu học cần được ưu tiên. Cần coi việc xây dựng thêm và trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên cho các trường tiểu học ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là một trong những giải pháp căn cơ để xóa bỏ bất bình đẳng giáo dục.
2. Trong tương lai, cần áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc miễn phí trong 9 năm học. Việc thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm dưới sự bao cấp tài chính của Nhà nước sẽ tạo đà nâng cao trình độ dân trí của người dân, tạo chuyển biến cơ bản về vấn đề nâng cao trình độ người lao động nói chung và xây dựng nguồn nhân lực quốc tế nói riêng.
3. Cần xem xét lại vấn đề đầu tư cho giáo dục, trong đó xác định mũi nhọn ưu tiên cho phù hợp với điều kiện của quốc gia. Trong một nguồn ngân sách cố định và khá hạn hẹp, việc đầu tư cho vấn đề gì trước cần có sự tính toán kỹ lưỡng và thực tế.
4. Cần học hỏi kinh nghiệm, áp dụng các tiêu chuẩn chung mang tính phổ quát trên thế giới. Tuy nhiên, việc học hỏi kinh nghiệm phải thấu đáo, vì mỗi chính sách được thực hiện trên thế giới đều kèm theo những điều kiện thực thi cụ thể của Việt Nam.
5. Đẩy mạnh quá trình tự chủ đại học của các trường đại học công lập. Giữa bối cảnh còn nhiều khó khăn trong việc thực thi tự chủ như đã nêu ở trên, có thể khẳng định rằng với nhiều cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ đại học vừa là mong muốn, vừa là quyền lợi, nhưng cũng vừa là một thử thách lớn. Tuy nhiên, tự chủ đại học là xu thế tiến bộ và tất yếu của quản trị đại học trên thế giới, và chính phủ Việt Nam cũng đang quyết tâm thực hiện vấn đề này, nên các trường đại học cũng xác định sẵn sàng bước vào sự chuẩn bị để tiến tới sự tự chủ theo quy định tại Việt Nam.
 
KẾT LUẬN
Hội nhập quốc tế là chiến lược của Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa. Trong quá trình hội nhập quốc tế, giáo dục đóng vai trò then chốt. Tuy không thể có thành quả nhanh chóng như trong lĩnh vực kinh tế, hội nhập quốc tế về giáo dục lại có tác động lâu dài và căn bản, bởi giáo dục tác động trực tiếp đến con người, mà con người là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động của xã hội.
Trong quá trình hội nhập, giáo dục Việt Nam không chỉ có những cơ hội mà còn có rất nhiều khó khăn, thách thức. Chúng tôi cho rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, những chính sách phù hợp để nền giáo dục của đất nước hòa nhập với thế giới, tạo ưu thế cho phát triển, đồng thời vẫn gìn giữ được những đặc thù riêng của đất nước là hết sức cần thiết. Một nguyên tắc quan trọng trong hội nhập là “hòa nhập chứ không hòa tan”, và điều đó cũng là kim chỉ nam cho công cuộc hội nhập của Việt Nam nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.       Luật giáo dục (2005)
2.       Luật giáo dục đại học (2012)
3.       Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo
4. Huỳnh Thành Đạt, Cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong nội bộ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đề tài Nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia, 2010
5. Nguyễn Trường Giang, Đổi mới cơ chế tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập gắn với nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả, Bộ tài chính, 2013
6.  Đinh Thị Nga, Đầu tư của Nhà nước cho giáo dục đào tạo- thực trạng và đề xuất, Tạp chí Tài Chính, 29/10/2017: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/dau-tu-cua-nha-nuoc-cho-giao-duc-dao-tao-thuc-trang-va-mot-so-de-xuat-125673.html
7.  Nguyễn Dạ Thảo, Đổi mới giáo dục đại học theo định hướng hội nhập quốc tế, Trường Đại học Thái Bình Dương:  http://pou.edu.vn/khoatckt/news/doi-moi-giao-duc-dai-hoc--theo-dinh-huong-hoi-nhap-quoc-te.254
8. Lê Văn, Những con số "biết nói" về giáo dục đại học Việt Nam, Báo Vietnam net ngày 11/08/2017: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/nhung-con-so-biet-noi-ve-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-389870.html
9. Nam Việt, Du học sinh Việt Nam ở nước ngoài tăng mạnh, Báo Quảng Nam ngày 7/3/2017: http://baoquangnam.vn/the-gioi/201703/du-hoc-sinh-viet-nam-o-nuoc-ngoai-tang-manh-726389/.
10. Một số bài viết của:
- Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết (Báo Tia Sáng)
- TS. Hoàng Thị Xuân Hoa (VNU Media)
11. Một số bài viết trên:
- Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
- Bản tin Đại học Đồng Nai
- Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam
- Báo Công an Nhân dân
- Báo Vietnam net
Tuyển sinh đại học Việt Nam đang đi ngược với thế giới

Tuyển sinh đại học Việt Nam đang đi ngược với thế giới

       Hiện nay, việc học sinh thi tốt nghiệp đạt điểm tuyệt đối vẫn không đỗ đại học đang khiến dư luận xã hội dậy sóng. Điều này cho thấy quy trình đào tạo, tuyển sinh đại học của ta có vấn đề.
      Để góp thêm cách nhìn nhận về vấn đề này, CLEF xin đăng tải bài viết của GS.TS. Nhà giáo nhân dân Võ Tòng Xuân – người có quan điểm cho rằng: quy trình tuyển sinh đại học của Việt Nam đang đi ngược với thế giới.
 
Sự tác động của COVID-19 đến giáo dục đại học nhìn từ quan điểm công bằng

Sự tác động của COVID-19 đến giáo dục đại học nhìn từ quan điểm công bằng

Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng nặng nề đến mọi quốc gia, đến mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là những nhóm thiểu số, trong đó có sinh viên, phải đối mặt với nhiều thách thức hơn. Để duy trì việc học tập, nhiều quốc gia đã thực hiện hình thức học trực tuyến (online), tuy nhiên ở những quốc gia có Internet chưa phổ biến và dung lượng băng thông thấp, cơ hội học tập trực tuyến bị hạn chế đáng kể. Các trường cao đẳng và đại học ở những quốc gia có thu nhập thấp phải vật lộn để triển khai những chương trình đào tạo từ xa có chất lượng, do thiếu những học giả có kinh nghiệm và thiếu nguồn lực.
CLEF xin giới thiệu bài viết của ông Jamil Salmi - Chuyên gia Giáo dục đại học toàn cầu và là thành viên Nghiên cứu tại Trung tâm Giáo dục Đại học Quốc tế, Boston College, Hoa Kỳ - phân tích về vấn đề này.
GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ

GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ

CLEF xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS.TS Ngô Minh Thủy, Viện trưởng CLEF, đã được trình bày và đăng trong kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Hope for the Future" do Quỹ One Asia và Trường ĐHNN- ĐHQG tổ chức năm 2018.
Giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới – kinh nghiệm cho Việt Nam

Giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới – kinh nghiệm cho Việt Nam

 
       Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ các học sinh chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, phát huy tối đa năng lực bản thân, đồng thời tạo ra một lực lượng lao động có định hướng rõ ràng, giúp tăng năng suất lao động và góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
       Việt Nam đang đứng trước những mâu thuẫn và áp lực lớn trong thị trường lao động. Giải quyết việc làm là một trong những khâu cực kỳ quan trọng nhằm phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đồng thời đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân, trong đó đặc biệt là của lực lượng lao động trẻ - lực lượng lao động chính trong tương lai của đất nước. Chính vì vậy, việc học tập kinh nghiệm về giáo dục hướng nghiệpphân luồng học sinh trung học phổ thông là hết sức cần thiết.
       Bài viết do CLEF tổng hợp dưới đây sẽ đưa ra một số kinh nghiệm về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học phổ thông tại một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam. 
Kinh nghiệm tổ chức thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học ở các nước trên thế giới

Kinh nghiệm tổ chức thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học ở các nước trên thế giới

        Không chỉ riêng Việt Nam mà ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, kỳ thi đại học là một sự kiện quan trọng nhận được sự quan tâm của dư luận. Cũng giống như Việt Nam, sau những năm học phổ thông, học sinh các nước trên thế giới đều phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp và xét tuyển đại học để được vào trường mình mong muốn. Tuy nhiên mỗi nước lại có những phương pháp xét tuyển khác nhau.
Học trực tuyến – các góc nhìn

Học trực tuyến – các góc nhìn

Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự ra đời của mạng internet đã đem lại cho con người nhiều ứng dụng tiện ích. Trong đó, học trực tuyến, học qua mạng (elearning/online) trở thành một phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lực cho xã hội, đặc biệt trong thời kỳ dịch bệnh Covid -19 hoành hành ở nhiều nước trên thế giới thì học trực tuyến trở thanh giải pháp tối ưu. Đối với Việt Nam, đây còn là một hình thức tiến hành công nghiệp hóa giáo dục theo hướng phát triển, hiện đại.
CLEF xin tổng hợp những quan điểm, đánh giá về việc học trực tuyến qua bài viết dưới đây.
Huy Anh CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - GIÁO DỤC QUỐC TẾ VIỆT TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG VIỆN QUỐC TẾ PHÁP NGỮ VOV2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CẦU GIẤY TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT HỒNG ĐỨC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA