Vai trò của các viện nghiên cứu trong tiếp cận công nghệ từ bên ngoài

Thứ Năm, 14/01/2021 11:03
Khắc phục khó khăn trong tiếp cận kết quả nghiên cứu khoa học của thế giới đòi hỏi chúng ta phải chú trọng phát triển cả khoa học-công nghệ và nghiên cứu cơ bản. Vấn đề là cần định hướng các nghiên cứu vào những hoạt động cụ thể nhằm thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nghiên cứu nước ngoài và sản xuất trong nước.
     Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu từ bên ngoài nhiều khi được nhìn nhận chỉ là tìm kiếm, sử dụng những gì vốn có sẵn thay vì phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học thật sự. Tuy nhiên, đó là cách nhìn nhận giản đơn. Trên thực tế, tiếp cận của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đối với kết quả nghiên cứu khoa học tạo ra tại các nước công nghiệp phát triển thường gặp phải những khó khăn sau:
     - Có rất nhiều tri thức không thể truyền đi xa bằng các phương tiện truyền thông do chưa được mã hóa.
     - Ðiều kiện quyết định để tiếp thụ kết quả nghiên cứu là người nhận cần có tri thức cần thiết.
     - Hoạt động nghiên cứu ở các nước công nghiệp phát triển vốn thực hiện qua những mạng lưới rất chuyên môn hóa, những công-xooc-xi-um nghiên cứu.
     - Hoạt động nghiên cứu ở các nước công nghiệp phát triển được đặt trong liên minh giữa viện, trường và doanh nghiệp, sản phẩm nghiên cứu sẽ gắn với lợi ích kinh doanh của khu vực tư nhân, phục vụ cạnh tranh trong kinh doanh.
     Vì vậy, cần hiểu đúng về vấn đề quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu khoa học hay toàn cầu hóa công nghệ đang được nói đến nhiều hiện nay. Có khá nhiều định nghĩa về toàn cầu hóa công nghệ như: sự khai thác quốc tế đối với năng lực công nghệ quốc gia; sự hợp tác xuyên quốc gia của các doanh nghiệp cả khu vực chính phủ lẫn khu vực tư nhân để trao đổi và phát triển kỹ năng; sự tạo ra đổi mới xuyên qua các quốc gia;... Nhưng đi vào cụ thể, người ta dễ dàng nhận thấy tỷ lệ các nước đang phát triển tham gia hợp tác, liên kết rất ít, quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu thông qua công ty xuyên quốc gia không đáng kể,... và thậm chí, quốc tế hóa thực chất là trong nội bộ của bộ ba Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.
     Trở ngại trong tiếp cận các thành tựu KH - CN tiên tiến trên thế giới liên quan trực tiếp đến các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp là nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu nhưng không thể tự mình giải quyết những khó khăn nêu ở trên. Sự tồn tại của hệ thống viện nghiên cứu chính là lực lượng hỗ trợ giúp doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu từ bên ngoài.
     Ở Việt Nam đang có vấn đề về vai trò của viện nghiên cứu. Dư luận hiện không bằng lòng với mối quan hệ chung chung giữa nghiên cứu và sản xuất, giữa viện và doanh nghiệp. Tồn tại nỗi băn khoăn của chúng ta là do chưa xác định rõ nhiệm vụ của viện nghiên cứu nhằm vào việc giúp doanh nghiệp tiếp cận kết quả nghiên cứu ở bên ngoài thông qua khắc phục bốn khó khăn nêu trên. Với vị trí cầu nối giữa nghiên cứu bên ngoài và sản xuất trong nước, hệ thống viện nghiên cứu ở nước ta vừa phải thể hiện rõ định hướng phục vụ doanh nghiệp vừa phải độc lập tương đối trước doanh nghiệp. Do đó không thể giản đơn quy về một mô hình khoa học đẩy hoặc thị trường kéo...
     Để khắc phục khó khăn do nhiều tri thức khoa học chưa được mã hóa, viện nghiên cứu phải tăng cường tham gia và tham gia có hiệu quả vào các chương trình nghiên cứu quốc tế với các nước công nghiệp phát triển, hoặc tranh thủ thu hút lực lượng các nhà khoa học của các nước công nghiệp tiên tiến.
    Ðể khắc phục khó khăn về cần có tri thức cần thiết giúp tiếp nhận thành tựu KH - CN tiên tiến bên ngoài, viện nghiên cứu phải đi trước trong việc nắm vững những nguyên lý KH - CN, làm chủ kết quả nghiên cứu và truyền đạt thành công sang cho doanh nghiệp.
    Ðể khắc phục khó khăn do hoạt động nghiên cứu KH - CN ở các nước công nghiệp phát triển tổ chức dưới dạng Công-xooc-xi-um, hệ thống viện nghiên cứu ở Việt Nam cũng phải hình thành và phát triển giống với mô hình những nơi mà chúng ta mong muốn tiếp thụ kết quả nghiên cứu.
    Ðể khắc phục tình trạng kết quả nghiên cứu bị giữ kín như là bí quyết cạnh tranh, viện nghiên cứu ở nước ta phải có những nghiên cứu khoa học đủ sức "giải mã" phần công nghệ ẩn giấu trong hàng hóa được tự do lưu thông trên thị trường. Trung Quốc là một thí dụ cho chúng ta tham khảo, bởi nước này đang thực hiện khá tốt việc thu nhận và đồng hóa công nghệ nước ngoài thông qua bắt chước chế tạo lại các sản phẩm xuất khẩu.
    Rõ ràng việc tiếp cận với tri thức đòi hỏi cái gì đó nhiều hơn là việc tiếp cận thông tin. Lời khuyến cáo sau đây từ Ngân hàng thế giới tỏ ra có lý: "Các nước đang phát triển không thể tận dụng khối lượng lớn tri thức toàn cầu trừ phi họ xây dựng được năng lực tìm kiếm những công nghệ thích hợp và lựa chọn, hấp thụ và thích nghi được những gì mà họ tìm ra".
    Dù khác nhau về một số mặt liên quan tới trình độ, nhiệm vụ sáng tạo tri thức,... vẫn cần có sự tương thích nhất định giữa hệ thống viện nghiên cứu của Việt Nam với hệ thống nghiên cứu của các nước công nghiệp phát triển. Ðiểm khác nhau cho phép và sự tương thích bắt buộc là những chiều hướng trái ngược nhau. Quá nhấn mạnh và biệt lập từng xu hướng sẽ dẫn đến nguy cơ nghiên cứu ở các viện thoát ly nhu cầu trong nước hoặc nghiên cứu ở viện không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Ðáng tiếc, dường như đang có khá nhiều biểu hiện chứng tỏ ở Việt Nam đang tồn tại cả nguy cơ này. Chung quy là do chưa trả lời đúng câu hỏi viện nghiên cứu là ai trong quan hệ với doanh nghiệp.
     Chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra đối với viện nghiên cứu ở nước ta nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận kết quả nghiên cứu từ bên ngoài cũng là một căn cứ cho phép giải đáp các vướng mắc đang tồn tại như: Chúng ta cần phát triển loại khoa học gì? Chuyển các viện nghiên cứu sang hoạt động theo cơ chế thị trường như thế nào?
     Khắc phục khó khăn trong tiếp cận kết quả nghiên cứu nước ngoài đòi hỏi chúng ta phải chú trọng phát triển cả khoa học và nghiên cứu cơ bản. Vấn đề là cần định hướng các nghiên cứu vào những hoạt động cụ thể nhằm thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nghiên cứu nước ngoài và sản xuất trong nước.
     Mặt khác, muốn phát triển lên, Việt Nam phải phấn đấu chuyển từ bắt chước công nghệ sang sáng tạo công nghệ (giống như con đường mà Nhật Bản, Hàn Quốc,... đã trải qua). Bước chuyển từ bắt chước sang sáng tạo chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở chuẩn bị thật sớm về phát triển khoa học và nghiên cứu cơ bản.
     Gắn với doanh nghiệp là cơ  sở để khẳng định khả năng chuyển viện nghiên cứu sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, còn có những lý do khác khiến chúng ta không thể trông cậy nhiều vào quan hệ thị trường. Trước hết chính  hạn chế của cơ chế thị trường đã gây nên các khó khăn trong tiếp cận kết quả nghiên cứu của bên ngoài và do đó cần có hệ thống viện nghiên cứu. Tiềm lực của các viện nghiên cứu ở nước ta vốn rất yếu trước nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp không thể phát triển tự phát bằng thị trường, trái lại đòi hỏi phải có những hỗ trợ từ Nhà nước. Ngoài ra, ngay tại các nước công nghiệp phát triển, sự trợ giúp của Nhà nước không chỉ dành cho nghiên cứu cơ bản mà còn dành phần đáng kể cho cả nghiên cứu ứng dụng.
                                                                                                       TS Hoàng Xuân Long
                                                                                                  Nguồn: http://nhandan.com.vn
Những thành tựu nổi bật của giáo dục Việt Nam

Những thành tựu nổi bật của giáo dục Việt Nam

Từ một quốc gia có 95% dân số mù chữ, trải qua 76 năm với nhiều nỗ lực, nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng.  
 
Giáo dục tiếng Nhật ở bậc phổ thông tại Việt Nam: Những dấu mốc quan trọng được nhìn lại qua Diễn đàn giáo viên tiếng Nhật phổ thông Việt Nam lần thứ nhất (JLTF 2021)

Giáo dục tiếng Nhật ở bậc phổ thông tại Việt Nam: Những dấu mốc quan trọng được nhìn lại qua Diễn đàn giáo viên tiếng Nhật phổ thông Việt Nam lần thứ nhất (JLTF 2021)

Ngày 28/11 vừa qua, Diễn đàn giáo viên tiếng Nhật phổ thông Việt Nam lần thứ nhất (JLTF 2021) đã diễn ra với sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhiều giáo viên và các nhà chuyên môn đến từ nhiều vùng miền trên cả nướcThông qua Diễn đàn, hãy cùng nhìn lại những dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của chương trình giáo dục tiếng Nhật ở bậc phổ thông tại Việt Nam.
Một số luận giải về triết lý giáo dục

Một số luận giải về triết lý giáo dục

Triết lý giáo dục là triết lý được áp dụng cho giáo dục như một lĩnh vực chuyên biệt trong quá trình nghiên cứu của nhân loại. Triết lý về giáo dục liên quan đến những tác động đặc trưng của triết học ảnh hưởng đến giáo dục. Triết lý giáo dục góp phần định hướng nền giáo dục của một quốc gia.
Chữ “Lễ” trong quan hệ thầy – trò

Chữ “Lễ” trong quan hệ thầy – trò

Nền giáo dục phong kiến trước đây đã khẳng định ý nghĩa của việc học trước tiên không phải học chữ, học kiến thức, mà là học lễ nghĩa - học làm người: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Trong phong tục và truyên thống xa xưa của dân tộc ta đã luôn coi trọng việc quan tâm đến người thầy, đề cao tình nghĩa thầy trò.
Huy Anh CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - GIÁO DỤC QUỐC TẾ VIỆT TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG VIỆN QUỐC TẾ PHÁP NGỮ VOV2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CẦU GIẤY TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT HỒNG ĐỨC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA