Văn học Nhật Bản đến Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa

Thứ Ba, 25/05/2021 03:43
Việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt những năm gần đây khá sôi động giúp cho bạn đọc Việt Nam gần gũi hơn với đất nước và văn hóa, con người Nhật Bản. Bài viết dưới đây mang lại một góc nhìn khác - từ khía cạnh ngôn ngữ và văn hóa - đối với việc dịch thuật các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt.
1.      Văn học Nhật Bản được dịch và giới thiệu ở Việt Nam
      Những năm gần đây, khi việc dịch và giới thiệu tác phẩm văn học nước ngoài ở Việt Nam trở nên khá sôi động, cùng với sự xuất hiện của một số doanh nghiệp tương đối có uy tín và quy mô trong lĩnh vực này như Nhã Nam, Phương Nam Book, Alpha Books v.v..., thì nhiều tác phẩm văn học Nhật Bản cũng được dịch và giới thiệu đến độc giả Việt Nam. Có thể nói những tác phẩm văn học đến từ Nhật Bản, đặc biệt là các tác phẩm gắn với tên tuổi của những nhà văn Nhật Bản nổi tiếng trên thế giới như Kawabata Yasunari, Natsume Soseki, Murakami Haruki, Banana Yoshimoto v.v...., đã có sự đóng góp đáng kể vào việc mở rộng, phát triển thị trường văn học dịch trong nước. Đồng thời, sự xuất hiện của các tác phẩm này cùng với nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, giới thiệu văn hóa Nhật Bản diễn ra ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng cũng góp phần làm cho hình ảnh về đất nước, con người Nhật Bản trở nên quen thuộc với người Việt Nam hơn. Cũng cần phải nói thêm rằng nguồn tài trợ từ Quỹ giao lưu văn hóa Nhật Bản (Japan Foundation) nhằm hỗ trợ, xúc tiến việc dịch và xuất bản các tác phẩm Nhật Bản ở Việt Nam có đóng góp ở một mức độ nhất định trong hoạt động này, làm tăng số lượng tác phẩm văn học Nhật Bản được dịch ra tiếng Việt.
     Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng văn học Nhật Bản được dịch và giới thiệu ở Việt Nam trong những năm gần đây chủ yếu là văn học hiện đại.
     Trước hết, văn học Nhật Bản gây sự chú ý cho độc giả Việt Nam qua những tác phẩm thuộc loại best-sellers của các nhà văn Nhật Bản đương đại có sức thu hút đối với độc giả Nhật Bản và thế giới. Bắt đầu từ bản dịch tiếng Việt của tiểu thuyết Rừng Na Uy (Noruwei no mori) xuất hiện lần thứ hai vào năm 2006, một loạt tác phẩm của Murakami Haruki được giới thiệu liên tiếp đến độc giả Việt Nam, từ thể loại tiểu thuyết gồm nhiều tác phẩm như Biên niên ký chim vặn dây cót (Nejimaki-dori kuronikuru)Kafka bên bờ biển (Umibe no Kafuka), Phía nam biên giới, phía tây mặt trời (Kokkyo no minami, taiyo no nishi), Người tình Sputnik (Suputoniku no koibito), Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và nơi tận cùng thế giới (Sekai no owari to hadoboirudo wandarando), Cuộc săn cừu hoang (Hitsuji wo meguru boken), Nhảy, nhảy, nhảy (Dansu, dansu, dansu), IQ84 đến các truyện ngắn in thành các tập như Đom đómNgày đẹp trời để xem Kangaroo v.v... và tiểu thuyết tự truyện. Cũng trong thời gian này, một cây bút nữ của văn học đương đại Nhật Bản nổi tiếng thế giới là Banana Yoshimoto đã đến với độc giả Việt Nam qua một loạt tác phẩm như Kitchen (Kicchin) Vĩnh biệt Tsugumi (Tsugumi), Say ngủ (Shirakawa yobune), N.PAmrita (Amurita), Thằn lằn (Tokage) v.v...
     Tiếp theo, việc giới thiệu văn học Nhật Bản với độc giả Việt Nam được mở rộng theo hướng kết hợp việc khai thác, dịch thuật những tác phẩm mới của các tác giả đương đại có vị trí khá nổi bật trên văn đàn Nhật Bản như Ogawa Yoko, Suzuki Koji, Asada Jiro, Ekuni Kaori, Miyamoto Teru, Yumoto Kazumi, Ichikawa Takuji v.v... cùng với việc tái bản hoặc dịch lại một số tác phẩm nổi tiếng trong giai đoạn đầu tiên của văn học hiện đại Nhật Bản mà trước đây đã từng được dịch ra tiếng Việt như các tiểu thuyết của Kawabata Yasunari, Nỗi lòng (Kokoro) của Natsume Soseki, Kim các tự (Kinkakuji) của Mishima Yukio, Người đàn bà trong cồn cát (Suna no onna) và Khuôn mặt người khác (Tanin no kao) của Abe Kobo, Đèn không hắt bóng (Mueito) và các truyện ngắn in trong tập Truyện ngắn Nhật Bản hiện đại.
     Đặc biệt, nhờ sự đóng góp của một số nhà nghiên cứu và dịch giả yêu thích văn học Nhật Bản nên đã có thêm một số tác phẩm của các nhà văn lớn của văn học Nhật Bản hiện đại được dịch và giới thiệu trong khoảng hai thập niên trở lại đây như tập Trinh tiết tập hợp một số truyện ngắn của Akutagawa Ryunosuke, tiểu thuyết Yêu trong bóng tối (Momoku monogatari) của Tanizaki Jun’ichiro, một số truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari, tiểu thuyết Một nỗi đau riêng (Kojinteki na taiken) của Oe Kenzaburo, các truyện ngắn Đang trùng tu (Fushinchu), HanakoThuyền giải tù (Takasebune) của Mori Ogai, các tác phẩm của Dazai Osamu gồm tiểu thuyết Thất lạc cõi người (Ningen shikkaku), Tà dương (Shayo) và một số truyện ngắn, các tiểu thuyết của Natsume Soseki như Cậu ấm ngây thơ (Botchan), Tôi là con mèo (Wagahai wa neko dearu), Gối đầu lên cỏ (Kusamakura), và một số truyện ngắn của các nhà văn hiện đại Nhật Bản như Arishima Takeo, Yokomitsu Riichi, Hayashi Fumiko, Nakajima Atsushi v.v...
     So với mảng văn học hiện đại, văn học cổ điển Nhật Bản được dịch và giới thiệu ở Việt Nam phải nói là rất ít ỏi. Trong phạm vi tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được, văn học cổ điển Nhật Bản chỉ được giới thiệu qua các ấn phẩm sau:
·        Truyện cổ nước Nhật và bản sắc dân tộc Nhật Bản do Đoàn Nhật Chấn biên soạn, giới thiệu một số truyện cổ Nhật Bản trong tập Cổ sự ký (Kojiki).
·        Văn học Nhật BảnThơ ca Nhật BảnBasho và thơ haiku do Nhật Chiêu biên soạn, giới thiệu một số thơ waka, thơ haiku cổ điển và trích đoạn các tác phẩm văn xuôi cổ điển như Genji monogatari (thời Heian), Truyện Heike (thời Kamakura) và một số truyện ngắn của Ihara Saikaku (thời Edo).
·        Truyện kể Genji (không rõ tên dịch giả) do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1991, dịch toàn văn tác phẩm Genji monogatari của Murasaki Shikibu từ bản tiếng Anh của Edward Seidensticker.
·        Tổng tập văn học Nhật Bản do Mai Liên chủ biên, là công trình tổng hợp, giới thiệu thơ waka các tác phẩm văn xuôi hoặc trích đoạn của các tác phẩm này trong văn học cổ điển Nhật Bản.
·        Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản do Nguyễn Nam Trân biên soạn, là một cuốn giáo trình về văn học Nhật Bản trình bày những khảo cứu công phu của tác giả, đồng thời giới thiệu đến độc giả Việt Nam nhiều bản dịch đoạn trích hoặc tác phẩm văn học Nhật Bản thuộc nhiều thể loại, trong các thời kỳ văn học từ thượng cổ đến hiện đại. Ngoài các công trình đã được xuất bản, nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân còn dịch toàn văn những tác phẩm quan trọng khác của văn học cổ điển Nhật Bản như tùy bút Buồn buồn phóng bút (Tsurezure gusa), Cảm nghĩ trong am (Hojoki) và chia sẻ với bạn đọc yêu thích văn chương trên các website.
·        Nhật Bản linh dị ký, do Nguyễn Thị Oanh dịch từ Nihon ryoiki, là sách tập hợp các truyện Phật giáo ở Nhật Bản thời Heian, do Kyokai biên soạn bằng Hán văn.
Cần nói thêm rằng các công trình giới thiệu văn học cổ điển nói trên chủ yếu được biên soạn dưới hình thức giáo trình dùng cho việc giảng dạy và học tập môn văn học Nhật Bản, số lượng ấn bản không nhiều và ít được biết đến ngoài giới học tập, tìm hiểu về Nhật Bản hoặc về văn học.
     Qua các nội dung trên, có thể tổng kết tình hình giới thiệu văn học Nhật Bản ở Việt Nam qua dịch thuật như sau:
     - Ở mức độ đại chúng, phổ biến trên toàn xã hội, văn học Nhật Bản chủ yếu được biết đến ở Việt Nam qua những tiểu thuyết đương đại của các nhà văn nổi tiếng ở Nhật Bản và trên thế giới. Hầu hết các nhà văn trong số này đều sáng tác trong thập niên 1980 đến nay. Các tác phẩm được dịch và giới thiệu thuộc giai đoạn này tương đối “cập nhật” và giúp bạn đọc Việt Nam có cơ hội làm quen với nhiều phong cách tiểu thuyết của nhiều cây bút đang có vị trí quan trọng trên văn đàn Nhật Bản hiện nay. Tuy nhiên, nếu so sánh với số lượng nhà văn và tiểu thuyết đương đại của văn học Nhật Bản thì có thể nói số lượng tác phẩm được dịch và giới thiệu ở Việt Nam chỉ là một phần rất nhỏ của thành tựu văn học Nhật Bản từ thập niên 1980 đến nay. Một điều cũng rất đáng nói là nhiều tác phẩm lớn của những nhà văn hiện đại sáng tác từ thời Minh Trị đến thập niên 1970 như Ozaki Koyo, Izumi Kyoka, Natsume Soseki, Mori Ogai, Arishima Takeo, Shiga Naoya, Nagai Kafu, Shimazaki Toson, Mishima Yukio v.v... vẫn chưa được dịch ra tiếng Việt.
     - Bên cạnh đó, thành tựu văn học cổ điển Nhật Bản được giới thiệu ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu nằm trong khuôn khổ các giáo trình, tài liệu giảng dạy và nghiên cứu văn học Nhật Bản. Thêm nữa, các tác phẩm văn xuôi cổ điển có quy mô lớn mới chỉ được giới thiệu qua các đoạn trích, hoặc như trường hợp Truyện Genji (Genji monogatari) có bản dịch toàn văn nhưng chất lượng chưa đạt, nội dung rất khó hiểu ngay cả đối với người có hiểu biết tương đối về văn hóa – văn học Nhật Bản.
     - Thơ cổ điển Nhật Bản được biết đến ở Việt Nam qua các bản dịch chủ yếu là thơ tanka và haiku nhưng số lượng vẫn còn rất ít ỏi so với số lượng thơ được tập hợp trong các tập thơ cổ điển có quy mô lớn ở Nhật Bản như Vạn diệp tập (Manyoshu), Cổ kim tập (Kokinshu), Tân cổ kim tập (Shinkokinshu) v.v... Còn thơ ca hiện đại Nhật Bản thì rất nhiều tác phẩm, tác giả nhưng hầu như chưa được độc giả Việt Nam biết đến.
     Tình hình trên cho thấy việc dịch và giới thiệu văn học Nhật Bản ở Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt so với các hoạt động giao lưu văn hóa Việt – Nhật được tổ chức tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng như sự quan tâm, xúc tiến, hỗ trợ từ phía Nhật Bản qua hoạt động tài trợ của Quỹ giao lưu quốc tế. Bài viết này trình bày những suy nghĩ, tìm hiểu của người viết về những vấn đề xoay quanh việc giới thiệu và tiếp nhận văn học Nhật Bản ở Việt Nam, từ đó cố gắng làm rõ phần nào những khó khăn cần khắc phục để hoạt động này phát triển mạnh hơn trong thời gian tới.
2.      Vấn đề ngôn ngữ trong dịch thuật và nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Việt Nam
     Một điều cần chú ý trong việc dịch văn học Nhật Bản sang tiếng Việt là nhiều tác phẩm trong số này được dịch từ ngôn ngữ thứ ba, nhiều nhất là trường hợp dịch từ tiếng Anh và tiếng Pháp. Gần đây mới xuất hiện một số tác phẩm văn học hiện đại được dịch trực tiếp từ tiếng Nhật như những truyện ngắn trong các tập Hoa cúc mùa thuTrinh tiếtMột mùa thơ dại; các truyện ngắn “trong lòng bàn tay” trong Tuyển tập KawabataTôi là con mèoCậu ấm ngây thơ và Gối đầu lên cỏ của Natsume Soseki; Thất lạc cõi người và Tà dương của Dazai Osamu cùng với các tiểu thuyết đương đại của Ogawa Yoko, Miyamoto Teru, Yumoto Kazumi, Ichikawa Takuji v.v... Trong lĩnh vực này, nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân đã có những đóng góp quan trọng với những bản dịch văn học cổ điển Nhật Bản từ cổ ngữ như Buồn buồn phóng bútCảm nghĩ trong am và nhiều trích đoạn văn xuôi cũng như thơ cổ điển được giới thiệu trong công trình Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản. Tuy nhiên, nhìn chung thì những tác phẩm được dịch trực tiếp từ tiếng Nhật vẫn còn rất ít và chủ yếu tập trung ở mảng văn học đương đại với các nhà văn trẻ. Ngay cả trường hợp Murakami Haruki là nhà văn đương đại có cách dùng ngôn từ trong sáng, dễ hiểu nhưng hầu hết bản dịch tiếng Việt các tác phẩm của ông cũng được dịch từ ngôn ngữ thứ ba.
     Những tác phẩm văn xuôi cổ điển thể hiện những đặc trưng của ý thức thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản và được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm tìm hiểu như Genji monogatari hay Makura no soshi cho đến bây giờ vẫn còn xa lạ với độc giả Việt Nam, ngay cả giới học thuật cũng ít người biết đến.
     Thơ tanka là một thể loại quan trọng của văn học truyền thống Nhật Bản, là nơi lưu dấu cảm thức thẩm mỹ của người Nhật thời cổ - trung đại nhưng chỉ mới được nhắc đến ở Việt Nam trong một số công trình nghiên cứu. Một số người Việt Nam biết đến thơ haiku Nhật Bản nhưng vẫn còn ít người hiểu đúng và cảm nhận sâu sắc về thơ haiku trong truyền thống văn hóa, tư tưởng Nhật Bản mà chủ yếu chỉ biết những quy tắc đơn giản để sáng tác một bài thơ thuộc thể loại này.
     Lý do chủ yếu của tình trạng nói trên là những tác phẩm thuộc các thể loại của văn học cổ điển Nhật Bản chưa được phổ biến rộng rãi đến đông đảo độc giả ở Việt Nam. Trên thực tế, những tác phẩm này hoặc chưa có bản dịch tiếng Việt, hoặc bản dịch chỉ là trích đoạn, manh mún, hoặc bản dịch không được dịch trực tiếp từ nguyên tác, không chuyển tải được vẻ đẹp vốn có của văn học Nhật Bản đến với bạn đọc Việt Nam, gây khó hiểu cho người đọc hay ít nhất là không khơi gợi được ở họ niềm yêu thích dành cho văn học cổ điển Nhật Bản.
     Như vậy, trong khi đa số tác phẩm văn học ở các nước châu Âu như Anh, Pháp, Nga và tác phẩm văn học Trung Quốc đến với bạn đọc Việt Nam qua bản dịch từ nguyên tác thì văn học Nhật Bản, đặc biệt là những tác phẩm cổ điển mang đặc trưng độc đáo của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản lại thường được dịch sang tiếng Việt từ ngôn ngữ của một nền văn hóa khác, với số lượng tác phẩm ít ỏi và đội ngũ dịch giả thưa thớt, chưa chuyên nghiệp. Liệu có gì mâu thuẫn không, khi tình trạng này vẫn tiếp tục kéo dài trong hoàn cảnh quan hệ Việt – Nhật ngày càng mở rộng, các hoạt động giao lưu văn hóa Việt – Nhật diễn ra hàng năm ở nhiều nơi, số người học tiếng Nhật ở Việt Nam và du học sinh Việt Nam đến Nhật ngày càng tăng, các khoa hay chuyên ngành dạy tiếng Nhật xuất hiện ngày càng nhiều ở các trường đại học trên cả nước?
     Để trả lời câu hỏi trên, cần xem xét nhiều vấn đề văn hóa – xã hội trên một phạm vi rộng lớn, liên quan đến đội ngũ dịch giả, thực trạng nghiên cứu văn học Nhật Bản và đội ngũ các nhà nghiên cứu, yêu cầu và đãi ngộ dành cho người dịch văn học từ tiếng Nhật so với điều kiện tương tự ở các lĩnh vực khác cùng sử dụng lao động biết tiếng Nhật trong xã hội Việt Nam v.v... Vì việc dịch tác phẩm văn học có liên quan mật thiết đến vấn đề ngôn ngữ nên trước hết, trong phần này người viết trình bày một số nội dung xoay quanh vấn đề ngôn ngữ liên quan đến việc dịch văn học Nhật Bản sang tiếng Việt như sau.
     Vì tiếng Nhật là một loại ngôn ngữ khó học, khó thành thạo, nên tuy rằng số người biết tiếng Nhật ở Việt Nam có tăng lên trong mấy thập niên gần đây nhưng trên thực tế số người có thể dịch tác phẩm văn học chỉ là một bộ phận ít ỏi trong số đó. Đặc biệt văn học cổ điển Nhật Bản từ thời Edo trở về trước được viết bằng tiếng Nhật cổ với nhiều sự khác biệt về từ vựng và quy tắc ngữ pháp so với tiếng Nhật ngày nay, và những điều này không được dạy trong các cơ sở đào tạo tiếng Nhật thông thường, nên ngoại trừ những nhà nghiên cứu có điều kiện học tập, tìm tòi lâu dài ở Nhật thì hầu hết người biết tiếng Nhật ở Việt Nam không đảm đương được việc dịch tác phẩm văn học Nhật Bản từ cổ ngữ. Tương tự, ngôn ngữ trong các thể thơ cổ điển như tanka, haiku cũng có hình thức riêng, khác hẳn với ngôn ngữ đời thường của người Nhật hiện nay, nên chỉ có những người nghiên cứu chuyên sâu mới có thể hiểu đầy đủ ý nghĩa bài thơ để dịch sang tiếng Việt. Nếu dịch các thể thơ này từ một ngôn ngữ khác thì người dịch lại càng gặp nhiều khó khăn vì khi đó tác phẩm đã bị biến dạng về cấu tứ, ngôn ngữ, âm điệu so với nguyên tác, khó có thể nắm bắt đúng tinh thần Nhật Bản trong thơ để chuyển tải đến độc giả Việt Nam. Trong khi đó, số người thành thạo tiếng Nhật có nguyện vọng làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực dịch thuật, nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Việt Nam lại vô cùng ít ỏi, nên việc dạy và học tiếng Nhật đại trà với việc dịch thuật, nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa kết hợp được với nhau để có những tác phẩm chất lượng, quy mô giới thiệu đến đông đảo bạn đọc Việt Nam vẻ đẹp của văn học truyền thống Nhật Bản.
     Mặt khác, chính vì văn học cổ điển Nhật Bản, đặc biệt là các thể thơ truyền thống, được viết bằng ngôn ngữ đặc thù như thế nên việc nghiên cứu dòng văn học này đòi hỏi người nghiên cứu phải hiểu rõ các đặc trưng ngôn ngữ của nguyên tác thì mới hiểu được ý nghĩa tác phẩm, cảm nhận được vẻ đẹp riêng của văn học Nhật Bản gắn với truyền thống văn hóa, tư tưởng người Nhật. Chẳng hạn, để nghiên cứu một tác phẩm như Genji monogatari hay Makura no soshi, người nghiên cứu trước hết phải đọc tác phẩm bằng ngôn ngữ Nhật Bản thời Heian để cảm nhận âm điệu của câu văn và thâm nhập được vào bầu không khí đặc trưng của thế giới nghệ thuật mà tác giả dựng lên trong tác phẩm. Hoặc trong trường hợp nghiên cứu về thơ tanka, người nghiên cứu phải đọc nguyên tác bằng tiếng Nhật mới nắm bắt được nhịp điệu của câu thơ, vì thể thơ này không có vần như thơ lục bát của Việt Nam mà cũng không “tự do” hoàn toàn như kiểu thơ – văn xuôi hiện đại. Tuy nhiên, nếu đọc thơ tanka qua bản dịch tiếng Việt, người đọc có thể hình dung vần điệu của thể thơ này theo một trong hai kiểu nói trên. Thêm vào đó, nếu đọc qua bản dịch tiếng Việt thì người đọc có thể hiểu nhầm là thơ tanka hay dùng các từ nhân xưng như “tôi”, “ta”, “em”, “nàng” v.v... nhưng thật ra nguyên tác hầu như không dùng đến những từ nhân xưng như vậy. Sự xuất hiện của các từ nhân xưng còn làm cho tính mơ hồ, đa nghĩa hay sức khơi gợi của câu thơ đối với người đọc qua bản dịch cũng sẽ bị mất hoặc kém hẳn đi.
     Một ví dụ tiêu biểu cho tính cần thiết của bản dịch tác phẩm từ nguyên tác tiếng Nhật, đặc biệt là trường hợp bản dịch này được dùng cho nghiên cứu, là tác phẩm cổ điển Genji monogatari. Nguyên tác của tác phẩm này có nhiều thơ tanka được trích dẫn từ các tập thơ tanka cổ điển như Vạn diệp tập hay Cổ kim tập, nhưng vì bản tiếng Anh của Seidensticker không chú thích đầy đủ cho các trường hợp này mà chỉ ghi chú sơ lược một số vị trí có trích dẫn thơ Đường, nên bản tiếng Việt dịch từ bản tiếng Anh cũng có nội dung tương tự. Khi đọc bản tiếng Việt này, người đọc có thể cho rằng tác giả Genj monogatari chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn học cổ điển Trung Quốc, thể hiện qua việc trích dẫn thơ Đường, nhưng nếu đọc nguyên tác sẽ thấy phần thơ Đường (hầu hết là thơ Bạch Cư Dị) được dẫn vào tác phẩm chỉ là thiểu số so với thơ tanka cổ điển được dẫn ý hoặc trích dẫn toàn bài vào lời thoại và nội dung thư từ trao đổi giữa các nhân vật. Bên cạnh đó, những khái niệm xuất phát từ văn học – văn hóa Đông Á như Phật A di đà, tên các tác phẩm của Bạch cư dị hay các ca khúc, điệu múa cổ điển trong nhã nhạc cung đình khi xuất hiện trong bản dịch tiếng Anh lại trở thành những khái niệm xa lạ với người Việt. Nếu dịch giả không phải là người am hiểu văn hóa cổ điển Đông Á, hoặc không bỏ nhiều công sức để tra cứu, tìm lại từ gốc của những khái niệm này thì bản dịch tiếng Việt đến với bạn đọc Việt Nam sẽ có những nội dung khó hiểu, sai lệch so với bản gốc và khó có thể gợi lên bầu không khí cổ điển đặc trưng trong tác phẩm. Ngoài ra, khái niệm đặc trưng của cảm thức thẩm mỹ Nhật Bản thời Heian là “aware” xuất hiện trong tác phẩm rất nhiều lần trong nhiều văn cảnh, cú pháp khác nhau. Cho dù bản dịch tiếng Việt có được dịch từ nguyên tác tiếng Nhật thì cũng khó chuyển tải nguyên vẹn giá trị biểu cảm của từ này. Vì vậy, nếu đến với tác phẩm qua bản dịch thì người đọc khó mà hiểu được thấu đáo các nét nghĩa tạo nên giá trị biểu cảm của từ “aware” trong nguyên tác.
     Do những vấn đề ngôn ngữ nói trên mà việc tìm hiểu văn học Nhật Bản, đặc biệt là văn học cổ điển hàm chứa những giá trị văn hóa và biểu hiện cảm thức thẩm mỹ đặc trưng của người Nhật, đến nay vẫn còn là việc rất khó khăn đối với người đọc Việt Nam.
Tất nhiên là ở nhiều nước khác, người đọc thông thường cũng chủ yếu biết đến văn học Nhật Bản qua các tác phẩm hiện đại. Nhưng nếu có một đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp để chuyển ngữ những tác phẩm đặc sắc của văn học cổ điển Nhật Bản thì việc nghiên cứu về bộ phận văn học này sẽ được thực hiện thấu đáo hơn. Sự kết hợp giữa việc dịch thuật và nghiên cứu như vậy, tuy chỉ diễn ra trong phạm vi hạn chế, sẽ cung cấp cho người đọc nói chung – trong những hoàn cảnh nào đó thật sự cần thiết – những hiểu biết đúng đắn, sâu sắc về văn hóa, tư tưởng Nhật Bản trong văn học.
3.      Độc giả Việt Nam với văn học Nhật Bản: từ “biết” đến “cảm thụ thẩm mỹ”
     Như đã nói ở phần trên, riêng vấn đề ngôn ngữ đã gây ra không ít khó khăn cho việc dịch thuật và nghiên cứu văn học Nhật Bản, đặc biệt là văn học cổ điển và các thể thơ truyền thống. Nhưng trên thực tế, những khó khăn trong việc giới thiệu và tiếp nhận văn học Nhật Bản ở Việt Nam không chỉ có vấn đề ngôn ngữ.
     Một mặt, nói đến văn hóa Nhật Bản, nhiều người Việt Nam dễ có cảm giác gần gũi khi biết rằng Nhật Bản cũng là một quốc gia nằm trong khu vực văn hóa dùng chữ Hán ở Đông Bắc Á và có nhiều điểm tương đồng với các quốc gia cùng khu vực về văn hóa – nghệ thuật truyền thống như tranh thủy mặc, nghệ thuật gốm sứ, thư pháp, chịu ảnh hưởng của Phật giáo đại thừa v.v...
     Mặt khác, nếu đi sâu tìm hiểu từng lĩnh vực văn hóa sẽ nhận thấy giữa Việt Nam và Nhật Bản có nhiều điểm khác biệt đến mức khó... hiểu được nhau, từ ý thức thẩm mỹ truyền thống đến đời sống văn hóa đại chúng trong thời hiện đại. Chẳng hạn, dù rất quen thuộc về mặt thông tin, nhưng ít người Việt Nam, kể cả những người có ít nhiều hiểu biết về Nhật Bản, lý giải được hiện tượng tự sát rất phổ biến ở Nhật, ngay cả khi thời đại của các samurai với những kỷ luật khắt khe dành cho tầng lớp võ sĩ đã chấm dứt từ lâu. Nói đúng ra thì hiện tượng này cùng với nhiều vấn đề khác như sự phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật Bản trong những thập niên sau chiến tranh thế giới thứ hai, thái độ lễ phép và lịch sự có phần “thái quá” của người Nhật, tinh thần Thiền trong nghệ thuật bắn cung và những sinh hoạt của đời sống được người Nhật nâng lên thành “đạo” v.v... không chỉ gây thắc mắc đối với người Việt Nam mà còn thể hiện sự độc đáo của văn hóa Nhật Bản, khiến người Nhật trở thành một dân tộc có phần “khó hiểu” trước cái nhìn của nhiều nền văn hóa trên thế giới.
     Cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi có nhiều người Việt Nam cho rằng văn học Nhật Bản là khó hiểu, vì văn học chính là nơi thể hiện một cách chắt lọc và thâm thúy nhất thế giới quan và nhân sinh quan của người Nhật. Thậm chí có những trường hợp độc giả Việt Nam cảm thấy sự hấp dẫn của văn học Nhật Bản – chẳng hạn nhiều người thích vẻ đẹp và cảm giác mông lung trong tiểu thuyết của Kawabata Yasunari – nhưng vẫn không lý giải được nguồn cội hay bản chất của sự hấp dẫn này. Tình trạng này cũng không có gì là vô lý vì cảm thụ tác phẩm văn chương được viết theo bút pháp để lại nhiều “khoảng trống” như lối viết Kawabata không phải là điều đơn giản. Bản thân Kawabata, trong diễn từ nhận giải Nobel năm 1968, đã phải “đính chính” với độc giả trên toàn thế giới về ngụ ý của ông khi viết Ngàn cánh hạc (Sembazuru): “(...) nếu các vị nghĩ rằng trong thiên truyện Ngàn cánh hạc tôi muốn mô tả vẻ đẹp của tâm hồn và những hình thức của nghi lễ trà đạo, điều đó là không đúng. Thật ra là ngược lại, tôi chối bỏ nó, tôi cảnh báo chống lại sự phàm tục thô thiển mà những nghi thức trà đạo hiện nay đang sa vào”.
     Cụ thể hơn, một số độc giả Việt Nam, sau khi đọc khá nhiều tiểu thuyết Nhật Bản hiện đại, thường có nhận xét rằng văn học Nhật Bản gợi lên một thế giới tối tăm, u ám với nhiều vấn đề cá nhân và xã hội, khiến người đọc có cảm giác nặng nề hay bất an về đời sống con người. Ý kiến này khá là thuyết phục vì tiểu thuyết Nhật Bản hiện đại ngổn ngang những bất ổn của nhân sinh, từ sự sụp đổ các giá trị văn hóa truyền thống trên phạm vi toàn xã hội đến sự cô đơn, lạc lõng của con người trong một thế giới thừa thãi về vật chất nhưng lạnh lẽo về tình cảm; từ những nguy cơ của một guồng máy kinh tế lớn đến những lệch lạc về thể xác và tinh thần ở mỗi cá nhân. Tất nhiên, những vấn đề này không phải là chuyện riêng có ở xã hội Nhật Bản. Nhưng có thể nói rằng qua tư tưởng và bút pháp của các nhà văn Nhật thì các vấn đề của con người và xã hội dường như được thể hiện một cách tập trung, sâu sắc nên gây ấn tượng mạnh mẽ hơn. Có những truyện rất ngắn hoặc những tiểu thuyết gần như không có tình tiết gì gay cấn, nổi bật nhưng lại đặt ra những vấn đề khắc nghiệt về sự tồn tại và thân phận con người như Ở Kinosaki (Kinosaki nite) của Shiga Naoya, Người đàn bà trong cồn cát của Abe Kobo, Một nỗi đau riêng của Oe Kenzaburo, Nỗi lòng của Natsume Soseki v.v...
     Đặc biệt, văn học Nhật Bản thường nói đến cái chết với sắc thái biểu cảm rất đặc trưng, vừa thể hiện phong thái trầm tĩnh của một nền văn hóa xem cái chết là điểm đến tất yếu của đời sống con người, vừa gợi lên ở người đọc tình cảm thiết tha với cuộc sống và lòng trân trọng những giá trị tốt đẹp trên hành trình ngắn ngủi của một cá nhân trong thế giới vô thường. Sự xuất hiện nhiều nhân vật tự sát trong các tiểu thuyết hiện đại Nhật Bản có thể làm cho độc giả Việt Nam cảm thấy câu chuyện mình đang đọc trở nên ngột ngạt, nặng nề và cho rằng các nhà văn Nhật có cái nhìn bi quan về đời sống. Nhưng thật ra điều đó chủ yếu chỉ là những cách thể hiện khác nhau của một “hằng số” văn hóa Nhật Bản: quan niệm về bản chất của đời sống con người và vẻ đẹp riêng của cái chết, đặc biệt là những cái chết tự nguyện, thể hiện nhận thức sâu sắc của cá nhân về những giá trị cần chọn lựa hoặc đáng để hy sinh.
     Một ví dụ nổi bật có liên quan đến vấn đề văn hóa trong việc tiếp nhận văn học Nhật Bản hiện đại là “hiện tượng” Rừng Na Uy đến với bạn đọc Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Việc tác phẩm trở thành best-seller ở thị trường văn học dịch tại Việt Nam thì không có gì đáng nói, vì hiện tượng này cũng đã xảy ra khoảng hai mươi năm trước đó tại Nhật Bản và nhiều năm trước đó ở một số nền văn hóa đón nhận bản dịch đầu tiên của tác phẩm này. Vấn đề là độc giả Việt Nam tỏ ra quan tâm nhiều đến việc miêu tả các “cảnh nóng” một cách táo bạo trong tác phẩm, thậm chí còn đặt câu hỏi rằng nên xem tác phẩm này là văn học thực sự hay chỉ là... tiểu thuyết về sex! Trong khi đó, qua các bài nghiên cứu và những ý kiến của các bạn trẻ Nhật Bản trên internet về Rừng Na Uy, có thể thấy người Nhật có phản ứng và suy nghĩ khác hẳn khi tiếp nhận tác phẩm này. Độc giả người Nhật chủ yếu bày tỏ ấn tượng về tác phẩm ở quan điểm của tác giả về sự sống và cái chết, về tình yêu và sự yếu đuối trong tâm hồn con người. Những nội dung về sex, nếu có được nhắc đến trong những ý kiến bình luận, thì chỉ để nói đến nghệ thuật kể chuyện của tác giả hay sự phản tỉnh của người đọc, chứ không bị xem là yếu tố làm cho tác phẩm trở nên thấp kém và lệch lạc trong thế giới văn chương. Những bài viết về Rừng Na Uy của giới nghiên cứu phương Tây cũng có đặt ra vấn đề tranh luận về tính “thuần túy” văn học của tác phẩm nhưng thiên về phân tích những đặc điểm mang tính hậu hiện đại như sự giễu nhại, công thức, phân mảnh, bản sắc bị đánh mất v.v..., bên cạnh nhiều bài nghiên cứu về nghệ thuật tự sự của Rừng Na Uy nói riêng và tiểu thuyết Murakami Haruki nói chung. Dĩ nhiên sự cảm nhận, đánh giá tác phẩm nghệ thuật của một tác giả, một trào lưu nào đó là không giống nhau ở mỗi cá nhân trong các nền văn hóa có truyền thống khác nhau. Nhưng những nghệ sĩ lớn xuất hiện với tác phẩm có tiếng vang trên thế giới thường đi kèm với những đánh giá tích cực ở một mức độ tập trung nhất định. Trường hợp tác phẩm của Murakami Haruki đến Việt Nam cho thấy có một khoảng cách về văn hóa và cảm quan thẩm mỹ trong cảm thụ, đánh giá văn học Nhật Bản giữa độc giả người Việt với độc giả người Nhật và thế giới.
     Cảm thụ văn học đương đại của Nhật Bản mà còn gặp nhiều vấn đề quan niệm văn học và văn hóa như vậy thì không khó để hình dung những vấn đề trong việc tiếp nhận văn học cổ điển Nhật Bản ở Việt Nam. Cùng với vấn đề ngôn ngữ như đã trình bày ở phần trên, sự khác biệt về tư tưởng, văn hóa và ý thức thẩm mỹ thể hiện qua tác phẩm văn học cổ điển Nhật Bản cũng không tránh khỏi gây ra ở độc giả người Việt những ngạc nhiên, thắc mắc hay ngộ nhận. Ngay trong thế giới truyện cổ, những chi tiết như nhà vua trong câu chuyện về nàng Tiểu thư ánh trăng nhận được thuốc trường sinh bất tử nhưng không buồn dùng đến mà sai lính mang lên núi cao để đốt cũng thể hiện một lối suy nghĩ rất lạ lùng, khó giải thích đối với độc giả người Việt. Cho nên, khi tiếp cận với Genji monogatari – vốn được xem như một “tập đại thành” của văn hóa và tư tưởng thẩm mỹ thời Heian – thì độc giả Việt Nam sẽ gặp nhiều thắc mắc và khó mà cảm thụ hết giá trị thẩm mỹ đặc trưng trong tác phẩm, đặc biệt là dễ bị ngộ nhận về nhiều phương diện, trong trường hợp bản dịch tiếng Việt cách khá xa nguyên tác về vẻ đẹp văn chương. Ví dụ dễ thấy nhất cho trường hợp này là vấn đề nên hiểu như thế nào về nhân vật trung tâm của tác phẩm – hoàng tử Hikaru Genji. Nếu cảm thụ theo cách nghĩ thông thường của người Việt hiện nay thì khó mà thấy được vẻ đẹp của văn hóa Nhật Bản được ký thác vào hình tượng độc đáo này. Nhưng nếu xem nhân vật là một “Don Juan Nhật Bản” hay một hình ảnh phản ánh sự suy đồi về đạo đức thì khó mà lý giải được vị thế của tác phẩm trong suốt một nghìn năm tiến trình văn học Nhật Bản, từ lúc tác phẩm ra đời cho đến tận ngày nay.
     Tương tự, những khó khăn trong cảm thụ văn học Nhật Bản do độ chênh về văn hóa – tư tưởng của người Việt và người Nhật cũng bộc lộ rõ rệt ở các thể thơ truyền thống. Thứ nhất, người Việt Nam thông thường khó mà cảm thụ được kiểu thơ không có vần của Nhật Bản, và nếu không đọc nhiều thơ tanka bằng tiếng Nhật thì hầu như không biết được cái hay trong nhịp điệu riêng của thể thơ này. Thứ hai, những câu thơ hầu như chỉ có danh từ và hình ảnh thì quá ít ỏi, đơn bạc trong thơ tanka, haiku dễ bị độc giả Việt Nam – vốn đã quen với thơ Đường luật, thất ngôn bát cú hay lục bát – cho là khô khan, kém biểu cảm. Thứ ba, những hình ảnh dung dị, đời thường trong thơ haiku như cỏ dại, ruồi, muỗi, dép rơm, bụi cám v.v... trong thơ haiku dễ khiến cho người đọc Việt Nam ngộ nhận rằng haiku chỉ là thơ dân gian, hài hước và không có giá trị thẩm mỹ cao.
* Kết luận
     Những đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa nói trên kết hợp lại với nhau đã tạo nên một thế giới văn chương Nhật Bản độc đáo, phong phú với nhiều cái hay, cái đẹp cần khám phá. Mặt khác, thế giới này đòi hỏi những độc giả muốn thâm nhập vào bên trong phải được trang bị tri thức về ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản ở một trình độ khá cao.
     Cho nên, tuy Việt Nam và Nhật Bản có gặp nhau ở một số “giao điểm” của văn hóa Đông Á, tuy quan hệ ngoại giao của hai nước có sự phát triển tốt đẹp trong thời gian qua và có triển vọng phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, nhưng với những nội dung đã trình bày ở phần trên, có thể thấy con đường dẫn đến sự thấu hiểu văn học Nhật Bản nói riêng và văn hóa – tư tưởng Nhật Bản nói chung vẫn còn khá xa trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại. Để đi nhanh trên con đường khó khăn này, độc giả Việt Nam cần có sự trợ giúp của đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp, am hiểu về ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản để chuyển ngữ thành công những tác phẩm văn học có giá trị thẩm mỹ cao, đặc biệt là tác phẩm văn học cổ điển thể hiện ý thức thẩm mỹ truyền thống của người Nhật. Bên cạnh đó, người đọc Việt Nam cũng cần sự định hướng, dẫn dắt của các nhà nghiên cứu, phê bình am hiểu văn học và văn hóa Nhật Bản để hiểu đúng những thông điệp văn chương của người Nhật theo cách thể hiện riêng của họ, tránh trường hợp dùng khung giá trị của một nền văn học khác để xác định giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn chương Nhật Bản.
 
Nguồn: https://uyenlam.blogspot.com/
 
Nguy cơ tiềm ẩn từ sự lạm dụng ngôn ngữ mạng

Nguy cơ tiềm ẩn từ sự lạm dụng ngôn ngữ mạng

Ngôn ngữ mạng có tính đặc thù, là thứ ngôn ngữ phi chính thức, thể hiện sự tự do cá nhân. Từ thế giới "ảo" trên Internet, cách nói, cách viết "tuổi teen", "phá cách"... đã đi vào đời sống thực, vô tình trở thành thói quen trong giao tiếp, tạo nên thứ tiếng Việt xa lạ. Hiện nay, ngôn ngữ mạng được dùng rất phổ biến và theo các chuyên gia về ngôn ngữ, việc lạm dụng dạng ngôn ngữ này đem lại không ít hệ quả khó lường.
CLEF xin tổng hợp một số quan điểm, đánh giá về vấn đề này trong bài viết dưới đây.

 
Văn học Nhật Bản đến Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa

Văn học Nhật Bản đến Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa

Việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt những năm gần đây khá sôi động giúp cho bạn đọc Việt Nam gần gũi hơn với đất nước và văn hóa, con người Nhật Bản. Bài viết dưới đây mang lại một góc nhìn khác - từ khía cạnh ngôn ngữ và văn hóa - đối với việc dịch thuật các tác phẩm văn học Nhật Bản sang tiếng Việt.
Châu Âu và thách thức đa ngôn ngữ

Châu Âu và thách thức đa ngôn ngữ

Liên minh châu Âu (EU) đã tuyên bố ủng hộ đa ngôn ngữ, nhưng theo các nhà nghiên cứu thì đa ngôn ngữ vẫn là vấn đề nóng bỏng. Nội dung này đã được các chuyên gia thảo luận tại nhiều diễn đàn với những băn khoăn, trăn trở về cơ hội và thách thức của hiện tượng đa ngôn ngữ.
Nguồn lực ngôn ngữ trong sự phát triển của Singapore

Nguồn lực ngôn ngữ trong sự phát triển của Singapore

Singapore là một quốc đa văn hóa, gia đa ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở quốc gia này không chỉ được xem như một nguồn lực có giá trị kinh tế mà còn là biểu tượng của văn hóa. Để bảo đảm sự đa dạng văn hóa, thúc đẩy sự hiểu biết, đoàn kết giữa các dân tộc, đồng thời phù hợp với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, Singapore đã xây dựng, thông qua nhiều chiến dịch và chính sách ngôn ngữ. Đây là kinh nghiệm hữu ích cho các nước, trong đó có Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
VĂN HÓA NGÔN NGỮ VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC. NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY

VĂN HÓA NGÔN NGỮ VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC. NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY

Trong quá trình hội nhập thế giới, sự giao thoa văn hóa xã hội đòi hỏi ngôn ngữ phải có những thay đổi để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp mới. Vì thế từ khi nước ta bắt đầu hội nhập thì ngôn ngữ cũng dần dần xuất hiện những hiện tượng mới mẻ. Những từ ngữ mới, cách diễn đạt mới được hình thành để thêm vào những khái niệm, ngữ nghĩa mà trong vốn tiếng Việt trước đấy còn thiếu vắng. Cùng với mặt tích cực ấy, mặt tiêu cực cũng biểu hiện với không ít các cách nói, cách viết “khác lạ” trong giới trẻ làm mất đi hoàn toàn bản sắc vốn có của tiếng Việt. Đây là vấn đề đã thu hút sự quan tâm, trăn trở của nhiều người. Bài viết sau đây đưa ra một cách nhìn về vấn đề này.
MỘT SỐ THỦ THUẬT TRONG DỊCH VĂN HỌC

MỘT SỐ THỦ THUẬT TRONG DỊCH VĂN HỌC

Dịch một cuốn sách giống như viết một quyển sách. Điều này có nghĩa là người dịch thuật văn học phải có kỹ năng đầy đủ trong hai ngôn ngữ có liên quan và cũng là một nhà văn giỏi. Nó cũng đòi hỏi sáng tạo để khiến một cuốn sách tương thích với không chỉ một ngôn ngữ, mà còn là một nền văn hóa. Đồng thời, phải giữ gìn phong cách, giai điệu và dụng ý ban đầu của tác giả. Chắc chắn đây là một thách thức và những người thực hiện một bản dịch như vậy sẽ được đánh giá cao. Dưới đây là một số thủ thuật giúp bạn có bản dịch thành công hơn.
Huy Anh CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - GIÁO DỤC QUỐC TẾ VIỆT TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG VIỆN QUỐC TẾ PHÁP NGỮ VOV2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CẦU GIẤY TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT HỒNG ĐỨC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA