Tìm hiểu lịch sử văn hoá Nhật Bản

Thứ Hai, 15/06/2026 02:24
Phần 6: Văn hóa thời kỳ Kamakura (Liêm Thương, 1185-1333)
Về văn hoá, mặc dù giới quý tộc triều đình đã mất vai trò là trung tâm trong các hoạt động chính trị ở Nhật Bản nhưng uy thế xã hội và văn hoá quý tộc, vốn đã từng phát triển rực rỡ thời kỳ Nara, Heian vẫn có ảnh hưởng nhiều mặt trong đời sống xã hội. Do được kết tinh từ những giá trị văn hoá truyền thống lại cùng hoà nhập với những tinh hoa văn hoá tiếp thu từ bên ngoài nên văn hoá Nhật Bản, trong đó có dòng văn hoá quý tộc với trung tâm là Kyoto, vẫn có sức cuốn hút đối với nhiều tầng lớp xã hội. Trải qua thời gian, bản thân đẳng cấp võ sĩ cũng bị hấp dẫn bởi cuộc sống hào hoa, phong nhã của giới quý tộc triều đình. “Họ bắt đầu thích ăn ngon, mặc đẹp theo kiểu quý tộc, thích học tập, thích đua theo những chuẩn mực và sự tinh tế của Kyoto. Nhưng càng thích những cái đó thì họ lại càng thấy cuộc sống và những nguyên tắc mà giới cầm quyền Kamakura đặt ra là khắc khổ và buồn tẻ”. Để nâng cao địa vị xã hội của mình, nhiều gia đình võ sĩ lớp trên đã tìm cách kết giao thậm chí lập mối thông gia với những người thuộc giới quý tộc quyền quý mặc dù những hành động đó thường bị Mạc phủ cấm đoán.
Với vị trí là trung tâm chính trị mới của đất nước, từ một thành thị nhỏ, Kamakura đã được mở mang, xây dựng. Nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân trên cả nước và cả từ Kyoto đã tụ hội về Kamakura để sinh sống và sáng tạo nghệ thuật. Đời sống của một bộ phận trong giới võ sĩ đã bị quý tộc hoá nhưng mặt khác cuộc sống vương giả của giới quý tộc kinh đô cũng chịu nhiều ảnh hưởng của đẳng cấp quân nhân. Do vậy mà, trong mỗi dòng văn hoá của giới quý tộc cũng như của đẳng cấp võ sĩ, nếu khảo cứu kỹ, cũng có thể lọc ra nhiều biểu hiện văn hoá với những đặc trưng riêng biệt đã được tiếp nhận trong quá trình hoà nhập.
Có thể thấy, vào thời Kamakura, cùng với sự xuất hiện của những dòng văn hoá mới thì sự giao lưu giữa các vùng văn hoá là một đặc điểm đáng chú ý. Dưới tác động của một cơ chế chính trị thống nhất, lần đầu tiên ở Nhật Bản, sự khác biệt về văn hoá, tập quán, ngôn ngữ... giữa các địa phương đã phần nào được thu hẹp. Việc duy trì những quan hệ thường xuyên với một số quốc gia láng giềng châu Á cũng góp phần không nhỏ làm phong phú thêm đời sống văn hoá Nhật Bản thời kỳ này.
Tuy nhiên, cùng với sự hiện diện của đẳng cấp võ sĩ và dòng văn hoá mang đậm những đặc điểm tâm lý, tình cảm của đẳng cấp võ sĩ thì văn hoá Nhật Bản thời Kamakura còn chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo. Một trong những điểm nổi bật là, Phật giáo ngày càng thâm nhập sâu rộng vào nhiều tầng lớp xã hội. Cùng với Phật giáo, sự thức tỉnh của một số tôn giáo thời kỳ này là sự thể hiện sinh động nhu cầu và tình cảm tôn giáo của những tầng lớp xã hội mới ở Nhật Bản. Bên cạnh đó, những biến động xã hội diễn ra liên tục từ cuối thời Heian sang thời Kamakura khiến cho nhiều người có cái nhìn bi quan, yếm thế với cuộc sống và muốn tìm đến con đường giải thoát mới gần gũi, thiết thực hơn. Trong bối cảnh đó, với tư cách là một đẳng cấp đang lên, giới võ sĩ cũng bắt nhập và chịu tác động mạnh mẽ bởi hệ triết lý, lối sống cùng giáo luật của Phật giáo. Nhưng, việc đề cao Phật giáo và coi đó là chỗ dựa tâm lý, tư tưởng của đẳng cấp võ sĩ còn xuất phát từ nhận thức về vai trò và vị thế của tôn giáo này trong đời sống chính trị ở Nhật Bản. Ngay sau khi thiết lập được chính quyền, Mạc phủ đã cho tiến hành xây dựng lại chùa Todaiji ở Nara vừa bị chiến tranh Gempei tàn phá. Bản thân Yoritomo cũng rất quan tâm đến công việc phục hồi lại công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị đặc biệt quan trọng này. Trên thực tế, nhiều võ sĩ cao cấp cũng đồng thời là tín đồ trung thành của Phật giáo và không ít người trong số đó, lúc cuối đời, đã từ bỏ cuộc sống thế tục với những dục vọng, toan tính để tìm về sự thanh thản trong các ngôi chùa.
Thêm vào đó, sự xuất hiện của những nhân tố mới trong đời sống văn hoá thời kỳ này còn là hệ quả của những phát triển về kinh tế mà ở đó mức sống của một số tầng lớp xã hội được nâng cao. Hơn thế nữa, trong một cơ chế chính trị được thiết lập trên nguyên tắc tập quyền, nhiều yếu tố văn hoá riêng biệt của các địa phương cũng có dịp hội nhập với khuynh hướng phát triển chung của văn hoá Nhật Bản. Thời Kamakura, ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội không chỉ được thể hiện ở phương diện tôn giáo mà còn trong các vấn đề như giáo dục. văn hoá và tư tưởng. Các ngôi chùa Phật giáo cũng đồng thời là những cơ sở giáo dục. Đó là nơi mà nhiều tầng lớp xã hội, đặc biệt là con cháu của những tầng lớp xã hội bên trên, tìm đến để học tập và rèn luyện nhân cách. Do có kiến thức uyên bác và uy tín xã hội lớn mà nhiều nhà tu hành còn thực sự nhập thế, đóng vai trò cố vấn thậm chí trực tiếp giúp đỡ đội ngũ viên chức quân sự, những người vốn chỉ quen nghiệp cung kiếm, thực hiện các công việc hành chính.
Kamakura được coi là thời kỳ nở rộ của những giáo phái Phật giáo mới. Khác với một số môn phái từng phát triển ở Nhật Bản trước đây như Tendai (Thiên đài), Shingon (Chân ngôn)... thường ẩn mình trong một thế giới huyền bí, các giáo phái Phật giáo mới luôn itỏ ra gần gũi với mọi tầng lớp xã hội và chỉ ra cho họ con đường giản đơn để có thể được giải thoát. Phần lớn những người sáng lập nên các giáo phái mới đều xuất thân từ tầng lớp bình dân và vì vậy họ luôn có tư tưởng đại chúng hoá Phật giáo. Một số người chủ trương phải biên soạn lại kinh Phật bằng tiếng Nhật sao cho thật dễ hiểu, chấn chỉnh lại các tổ chức tôn giáo thậm chí còn quan niệm rằng người xuất gia đi tu có thể trở về với cuộc sống đời thường nên họ có thể kết hôn và có gia đình riêng.
Những thay đổi lớn đó của một số giáo phái mới đã có sức cuốn hút đối với đông đảo tín đồ. Mặc dù, ngay từ thời bấy giờ, chủ trương “cải cách tôn giáo” đó đã bị phê phán gay gắt. Nhưng, như một hệ quả xã hội tất yếu, nhiều giáo phái Phật giáo mới đã xuất hiện như: Hokke (Pháp Hoa), Jodo (Tịnh độ), Jodo Shinshu (Tịnh độ Chân tông) hay Nichiren (Nhật Liên)...
Được Shinran (Thân Loan, 1173-1262) thành lập vào năm 1224, Tịnh Độ Chân Tông đã mau chóng gây được nhiều ảnh hưởng trong xã hội và cho đến nay vẫn là một trong những môn phái Phật giáo có mức độ ảnh hưởng lớn trong xã hội Nhật Bản. Do lối truyền đạo giản đơn và giáo luật khoan dung, giáo phái này đã thu hút được tình cảm tôn giáo của các tầng lớp bình dân. Shinran cho rằng, tín đồ chỉ cần thành tâm niệm Phật thì cũng có thể được giải cứu mà không cần đến chùa chiền, nghi thức thờ cúng hay thuyết giảng của các nhà tu hành. Ông cũng cho phép sư tăng được có gia đình riêng, không nhất thiết cần phải ăn chay và có thể sống hòa đồng với mọi người. Những thay đổi do Shiran đề xướng đã được nhiều giáo phái tiếp nhận. Tịnh Độ Chân Tông còn cho dịch một số bộ kinh Phật giáo từ Hán ngữ sang Nhật ngữ đồng thời, tổ chức nhiều nhóm học thuật để nghiên cứu và tranh biện về giáo lý, tư tưởng. Về sau, từ các nhóm học thuật này đã hình thành nên những giáo đoàn lớn có ảnh hưởng về tôn giáo và chính trị trong xã hội Nhật Bản.
Cùng với Tịnh Độ và Tịnh Độ Chân Tông, năm 1253 một nhà sư có tên là Nichiren (1222-1282) đã lập ra một giáo phái mới mang tên mình. Mặc dù có nhiều điểm tương đồng về cách truyền đạo như Tịnh Độ và Tịnh Độ Chân Tông nhưng Nichiren được coi là môn phái có nhiều biểu hiện khác biệt trong số các giáo phái chịu ảnh hưởng Phật giáo xuất hiện thời Kamakura. Nichiren cho rằng chỉ có giáo phái do ông sáng lập mới có thể giải thoát cho mọi người và toàn thể dân tộc. Trái ngược với tinh thần khoan nhượng trong tư tưởng Phật giáo, Nichiren chủ trương chống lại các giáo phái Phật giáo khác vì theo ông các giáo phái đó chỉ có thể đưa người ta đến địa ngục. Ông lên án chính quyền đã ủng hộ một số giáo phái Phật giáo nhưng lại không có thiện cảm với Nichiren. Trái với tinh thần quảng đại của Phật giáo, Nichiren chủ trương một chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi. Theo ông, Nhật Bản là vùng đất của các thần linh và là trung tâm của vũ trụ vì vậy Phật giáo của Nhật Bản là duy nhất chân chính. Do theo đuổi những chủ trương tôn giáo đó nên Nichiren được coi là một giáo phái cuồng tín và theo đuổi tư tưởng dân tộc cực đoan nhất ở Nhật Bản thời bấy giờ.
Trong các giáo phái Phật giáo của Nhật Bản thời Kamakura, đáng chú ý là sự phát triển của Zen (Thiền). Giáo phái này có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc và đã xuất hiện ở Nhật Bản từ khoảng thế kỷ thứ VII. Nhưng, phải đến thế kỷ XII Zen mới trở thành một môn phái độc lập. Năm 1191, sau khi trở về từ Trung Quốc, nhà sư Eisai (Vĩnh Tây, 1141-1215) đã lập ra phái Rinzai. Tư tưởng tôn giáo của Fisai bị giới quý tộc triều đình chống đối và cá nhân ông bị đuổi ra khỏi Kyoto. Nhưng trái với quan điểm thù nghịch của giới quý tộc Kyoto, Zen đã thu hút được tình cảm tôn giáo của giới võ sĩ và cuối cùng đã được Mạc phủ bảo trợ. Và từ đó, Zen trở thành một lực lượng xã hội thực sự.
Sở dĩ có được thành công như vậy bởi vì Zen là một giáo phái ít coi trọng lý luận trừu tượng, viện dẫn kinh sách trong khi đó lai chú trọng nhiều đến phát triển tư duy trực giác để rồi có thể nhanh chóng nhận thức được bản chất của sự vật. Cách luyện tập của giáo phái này cũng nhấn mạnh đến sự rèn luyện về ý chí và quyết tâm tự thân của mỗi tín đồ. Do đó, Zen phù hợp với cuộc sống giản dị, thiên về hành động của giới võ sĩ. Khuynh hướng coi nhẹ tư tưởng kinh viện để tập trung vào sự rèn luyện tinh thần và thể xác của các tín đồ Thiền tông khiến cho môn phái này luôn tìm đến một con đường giải thoát gần với chân lý của tự nhiên. Và cũng chính vì vậy mà cuộc sống của họ gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên, coi sự sinh tồn của tự nhiên cũng đồng thời hàm chứa quy luật biến cải của cuộc đời. Thời Kamakura, Thiền đã nhanh chóng trở thành cơ sở triết lý, là phương châm sống và hành động của giới võ sĩ. Do được sự ủng hộ của các tập đoàn võ sĩ, kể cả những người nắm quyền quân sự cao nhất, nên Zen là một môn phái có ảnh hưởng và uy tín trong xã hội. Thiền tông đã góp phần không nhỏ để hình thành nên những đặc điểm tâm lý và hành vi của không chỉ đẳng cấp võ sĩ mà còn của nhiều tầng lớp xã hội khác ở Nhật Bản.
Sự phát triển của nhiều giáo phái Phật giáo thời kỳ này còn cho thấy những ảnh hưởng sâu sắc từ văn hoá Trung Hoa. Thời Kamakura, nhiều cơ sở tôn giáo đã đứng ra tổ chức và thiết lập các mối quan hệ buôn bán với Trung Quốc, Triều Tiên. Trong quá trình giao thương và cũng đồng thời là quá trình tiếp giao văn hoá đó, một số ngôi chùa có quy mô lớn đã được xây dựng từ nguồn lợi thu được qua những chuyến buôn bán với các quốc gia láng giềng trong khu vực. Khuynh hướng nhập thế, luôn tham dự vào các hoạt động kinh tế và chính trị của đất nước cũng là một đặc điểm của tôn giáo Nhật Bản.
Như vậy là, sau khi thâm nhập vào Nhật Bản, Phật giáo do tính triết lý và trí tuệ vốn có, đã gây được nhiều ảnh hưởng ở những trung tâm văn hoá lớn. Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo được coi là tôn giáo của giới quý tộc cao cấp hoàng triều, nhưng vẫn còn tương đối xa lạ với quần chúng. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XII trở đi, với chủ trương đại chúng hoá, Phật giáo đã ngày càng trở nên gần gũi với đông đảo các tầng lớp bình dân. Do vậy, đời sống văn hoá Nhật Bản thời kỳ Kamakura không chỉ là sự thể hiện những đặc điểm riêng biệt của dòng văn hoá võ sĩ mà còn phản ánh sâu đậm dấu ấn và tư tưởng Phật giáo trong nhiều tầng lớp xã hội. Có thể nhận biết những ảnh hưởng đó qua các công trình kiến trúc, đời sống văn hoá vật chất cùng các thành tố văn hoá khác. Trong dòng phát triển văn hoá đa dạng đó, ngoài những ngôi chùa Phật giáo có kiến trúc hoành tráng được xây dựng theo lối Tenjikuyo (Thiên trúc dạng) hay Karayo (Đường dạng) và kiểu nhà Wayo (Hoà dạng) truyền thống... thì cách dựng nhà Buke zukuri (Vũ gia tạo) mang phong cách phòng thủ quân sự, bố trí vuông vức với cổng chắc chắn và tường bao xung quanh cũng ngày một phổ biến trong giới võ sĩ Nhật Bản.
Về văn học, thời Kamakura cũng để lại một số tác phẩm tiêu biểu cho văn học sử của Nhật Bản như Hojoki, tác phẩm của một người ở ẩn có tên là Kamo-no-Chomei (1153-1216). Thay vì mô tả một cách trực diện cuộc chiến giữa hai họ Taira và Minamoto, tác giả đã viết về những thảm hoạ do tự nhiên và chiến tranh gây ra để từ đó diễn tả một cái nhìn bi quan về nhân thế. Tuyển tập thơ Shin kokinshu (Tân cổ kim tập), tập hợp những bài thơ của các nhà thơ bậc thầy thời kỳ đầu Kamakura cũng được coi là những tác phẩm đặc sắc. Ngoài ra, tác phẩm gồm 2 tập Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo, tức Tiểu luận về sự nhàn rỗi) của Yoshida Kenko (1282-1350) sáng tác khoảng năm 1335 là một tác phẩm mang đầy sắc thái bi quan và trầm mặc. Đặc biệt là Heike monogatari (Bình gia Vật Ngữ, tức Truyện kể Heike) sáng tác vào khoảng năm 1223, được coi là viên ngọc quý trong kho tàng văn hoá cổ Nhật Bản. Câu truyện này không chỉ đã mô tả một cách sống động đời sống, cách ứng xử, quan hệ xã hội của đẳng cấp võ sĩ mà còn thể hiện chân thực bối cảnh lịch sử, văn hoá của Nhật Bản thời bấy giờ. Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật của Nhật Bản sau này đã được sáng tác dựa vào chủ đề tư tưởng và nguồn cảm hứng từ những tác phẩm văn hoá quý báu này.
Kamakura cũng được coi là thời kỳ phát triển của các thể loại tranh mang tư tưởng Phật giáo. Tuy nhiên, cũng có thể chia làm 3 dòng chính: tranh mang chủ đề Phật giáo, tranh chân dung và tranh cuộn. Trong đó, loại tranh cuộn (ema kimono) rất được xã hội ưa chuộng vì phần nhiều đều có khuynh hướng hiện thực. “Những loại tranh này là thuần tuý Nhật Bản ở kiểu cách phát triển, cách thể hiện sinh động đầy sức sống các đề tài lịch sử, huyền thoại, tôn giáo và cuộc đời các cao tăng”.79 Trong số các tác phẩm còn được lưu lại thì bộ tranh Chuyện hiển linh ở điện Kasuga (gồm 20 bức) và Truyện Heiji (gồm 3 bức) được coi là những kiệt tác của nghệ thuật thời Kamakura. Cùng với những bức chân dung nổi tiếng vẽ Yoritomo hay Daito kokushi (Đại thống quốc sư); về chủ đề Phật giáo, một số tác phẩm hội hoạ của Nhật Bản sáng tác thời Kamakura đã đạt được trình độ cao về nghệ thuật và giá trị tư tưởng. Bảy thế kỷ đã trôi qua nhưng giới hâm mộ nghệ thuật thế giới vẫn còn truyền tụng mãi về vẻ đẹp xuất thần của bức Thác Nachi, tác phẩm của một nhà sư thế kỷ XIII, vẽ cảnh một thác nước lớn không ngừng nhịp nhàng đổ xuống như biểu trưng cho một chân lý vũ trụ nào đó.
(PGS.TS Nguyễn Văn Kim, Trích “Lịch sử Nhật Bản”, trang 146~154)
 
Tìm hiểu lịch sử văn hoá Nhật Bản

Tìm hiểu lịch sử văn hoá Nhật Bản

Phần 6: Văn hóa thời kỳ Kamakura (Liêm Thương, 1185-1333)
Chúc mừng PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà – Phó Viện trưởng Viện CLEF

Chúc mừng PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà – Phó Viện trưởng Viện CLEF

Ngày 29/4/2026, Chính phủ Nhật Bản đã chính thức công bố trao tặng Huân chương Mặt trời mọc có tia sáng vàng và nơ thắt hoa hồng cho PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà – nguyên Trưởng khoa Tiếng Nhật, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, hiện là Phó Viện trưởng Viện CLEF.
Từ sân chơi của Viện CLEF đến các sự kiện quốc gia: Hành trình tỏa sáng của thí sinh Cuộc thi hát tiếng Nhật 2025

Từ sân chơi của Viện CLEF đến các sự kiện quốc gia: Hành trình tỏa sáng của thí sinh Cuộc thi hát tiếng Nhật 2025

Viện CLEF trân trọng chia sẻ bài viết từ Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản (The Japan Foundation – JF) về CUỘC THI KỊCH NGẮN BẰNG TIẾNG NHẬT TOÀN QUỐC lần thứ 2 do JF tổ chức:
Chủ tịch HĐKH Viện CLEF: Từ Nghiên cứu đến giai điệu

Chủ tịch HĐKH Viện CLEF: Từ Nghiên cứu đến giai điệu

Chủ tịch HĐKH của Viện CLEF không chỉ là một nhà nghiên cứu, một dịch giả, một nhà văn, mà còn là một người sáng tác ca khúc.
Văn hoá là nhịp cầu tâm hồn giữa hai quốc gia

Văn hoá là nhịp cầu tâm hồn giữa hai quốc gia

“Thể thao – Văn hóa” phỏng vấn nhà văn, nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập,
(Chủ tịch HĐKH viện Nghiên cứu Phát triển Văn hóa, Ngôn ngữ và giáo dục - CLEF,
Ủy viên Ban thường vụ Hội Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Pháp,
Nguyên Viện trưởng Viện Quốc tế Pháp ngữ -IFI)
Cuộc sống nông nghiệp qua các lễ hội trong năm (xung quanh các nghi lễ dành cho trẻ em)

Cuộc sống nông nghiệp qua các lễ hội trong năm (xung quanh các nghi lễ dành cho trẻ em)

Mặc dù nền kinh tế của Nhật Bản đã có những thay đổi lớn lao nhờ thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao sau chiến tranh, nhưng xã hội Nhật Bản cho đến nay vẫn là xã hội lấy nông nghiệp làm nền tảng, ngoại trừ các thành phố lớn.
Huy Anh CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - GIÁO DỤC QUỐC TẾ VIỆT TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG VIỆN QUỐC TẾ PHÁP NGỮ VOV2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CẦU GIẤY TRƯỜNG TIỂU HỌC, THCS VÀ THPT HỒNG ĐỨC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA JF ACECOOK VAJA HEID NUI TRUC VIJACA dhnn thpt bac ha VIJ ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT FENIKAA CAFE COC VJFA AACVF LAFRANCOPHONIE KHOA PHÁP